Đế chế Mông Cổ và các cuộc chinh phục

Đế chế Mông Cổ từng tồn tại trong các thế kỷ 13, 14 và là quốc gia có lãnh thổ liền mạch lớn nhất trong lịch sử loài người. Khởi đầu trên các thảo nguyên Trung Á, đế quốc Mông Cổ đã trải dài từ Đông Âu đến biển Nhật Bản, bao gồm nhiều phần rộng lớn của Siberia ở phía bắc, và vươn tới phía nam đến Đông Nam Á, tiểu lục địa Ấn Độ, cao nguyên Iran và Trung Đông. Thành Cát Tư Hãn là “ông chủ” của Đế chế Mông Cổ thời kì này với câu nói nổi tiếng: “Ta là sự trừng phạt của chúa trời. Nếu các ngươi không sai phạm, trời đã không cử ta xuống đây”.
I/ Nguồn gốc và sự hình thành Đế chế Mông Cổ
Thành Cát Tư Hãn (1162 - 1228) với tên gốc là Thiết Mộc Chân, ông là con của một thủ lĩnh của bộ tộc Khất Nhan ở cao nguyên Mông Cổ. Ông kết hôn từ năm 16 tuổi và có rất nhiều vợ trong toàn bộ cuộc đời mình. Thiết Mộc Chân bắt đầu sự nghiệp bằng cách liên minh với Thoát Lý, một thủ lĩnh địa phương được phong tước Vương Hãn. Chính Thoát Lý là người đề nghị cho Thiết Mộc Chân mượn 20.000 quân để tạo ra đế chế đầu tiên chống lại các kẻ thù chính của quân Mông Cổ gồm Nãi Man, Miệt Nhi Khất, Đảng Hạng, Kim và Tatar.
Khét tiếng máu lạnh, Thiết Mộc Chân có quan điểm chỉ lựa chọn người trung thành và xứng đáng chứ không dựa vào quan hệ gia đình, một điểm độc đáo ở thời đại đó. Bộ luật mang tên Yassa của ông quy định cách xây dựng tổ chức và quốc gia trong phạm vi đế chế Mông Cổ.
Tư vấn làm sổ đỏ

Thiết Mộc Chân khuyến khích phục tùng tuyệt đối và đổi lại sẽ trao sự giàu có cho binh lính bằng các chiến lợi phẩm có được. Khi đánh bại bộ lạc đối phương, ông không giết hại hoặc ruồng bỏ binh sĩ của họ mà bảo hộ và hợp nhất vào đế chế của mình. Thậm chí, mẹ của Thiết Mộc Chân còn nhận nuôi những đứa trẻ mồ côi từ bộ lạc đối phương. Chính điều này giúp Thiết Mộc Chân mạnh hơn sau mỗi lần chiến thắng vì lòng dân luôn ổn định.
Năm 1206, ông liên kết thành công các bộ lạc Mông Cổ đang bị chia rẽ, và tại hội nghị Kurultai (Hội đồng các thủ lĩnh Mông Cổ) ông đã được phong là Thành Cát Tư Hãn (có nghĩa là vua của thế giới). Những pháp sư hàng đầu ở Mông Cổ tôn Thành Cát Tư Hãn là đại diện của Mongke Koko Tenri (trời xanh bất diệt) – vị thần tối cao trong quan niệm của người du mục. Khi được tất cả người dân và đối thủ tôn sùng địa vị tối cao và chấp thuận sứ mệnh thống trị thế giới, Thành Cát Tư Hãn tự đưa mình lên một đẳng cấp mới. Bất kì sự chống lại Thành Cát Tư Hãn nào cũng được cho là hành động trái ý trời. Thành Cát Tư Hãn được cho là chủ nhân câu nói nổi tiếng: “Ta là sự trừng phạt của chúa trời. Nếu các ngươi không sai phạm, trời đã không cử ta xuống đây”.
*Đánh nhà Tây Hạ
Cùng thời điểm hội nghị Kurultai, năm 1205, Thành Cát Tư Hãn tấn công vào khu vực Edsin và một tộc người Tây Hạ ở biên giới chấp thuận thần phục quân Mông Cổ. Sau đó hai năm, Thành Cát Tư Hãn dẫn một cách quân khác thọc sâu vào lãnh thổ Tây Hạ, xâm lược khu vực Ordo, Ô Lai Hải dọc sông Dương Tử trước khi rút binh vào năm 1208.
Tư vấn luật
Một năm sau đó, Thành Cát Tư Hãn lại kéo quân tiến vào Tây Hạ nhằm khuất phục hoàn toàn quốc gia này. Sau khi đánh bại một lực lượng do tướng Kao Liang-Hui chỉ huy ngoài Ô Lai Hải,  Thành Cát Tư Hãn chiếm được thành phố này và dồn quân dọc sông Dương Tử, đồng thời bao vây thành phố Ngân Xuyên (khu tự trị Ninh Hạ ngày nay) bằng 15 vạn quân. Thời điểm năm 1209, quân Mông Cổ vẫn chưa rành rẽ chiến thuật bao vây. Khi Thành Cát Tư Hãn ra lệnh lấp dòng Dương Tử để chặn nguồn nước của dân bản địa, tường bao bị vỡ và nhấn chìm khu lều trại của lính Mông Cổ. Dù vậy, hoàng đế Lý An Toàn vẫn sợ hãi trước thế quân Mông Cổ và xin hàng. Ông thể hiện sự thần phục của mình bằng cách gả con gái Chaka cho Thành Cát Tư Hãn và cống nạp lạc đà, chim ưng và vải quý.
Nhà Tây Hạ sau đó trở thành chư hầu đắc lực của Thành Cát Tư Hãn trong gần 10 năm, hỗ trợ quân Mông Cổ tấn công xâm lược nhà Kim. Năm 1219, Thành Cát Tư Hãn chỉ huy chiến dịch đánh chiếm đế quốc Khwarazm ở Iran ngày nay và nhận được sự trợ giúp về mặt hậu cần của nhà Tây Hạ.
*Đánh nhà Kim
Tư vấn pháp luật
Nhưng mục đích quan trọng hơn của Thành Cát Tư Hãn là xâm chiếm nhà Kim. Thứ nhất, đây là quốc gia khiến Mông Cổ trong quá khứ nhiều lần nuốt “trái đắng”. Thứ hai, Thành Cát Tư Hãn muốn chiếm lấy nguồn tài nguyên giàu có ở miền bắc Trung Quốc. Trận chiến lịch sử Dã Hồ Lĩnh (nay thuộc Trương Gia Khẩu, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) là bước ngoặt giữa quân Mông Cổ và triều đình nhà Kim. Trong trận này, quân Kim áp dụng chiến sách “tập trung quân số” để đối phó với Thành Cát Tư Hãn vì biết rằng nếu dàn quân trên nhiều cửa ải thì chắc chắn sẽ thua trận. Nhà Kim dồn 450.000 lính tinh nhuệ vào trận Dã Hồ Lĩnh với ý đồ tiêu diệt hoàn toàn quân Mông Cổ. Trong trận đại chiến này, Thành Cát Tư Hãn tiếp nhận ý kiến của nhiều quân sư, đặc biệt là Mộc Hoa Lê, trong đó sử dụng quân cảm tử tấn công quân Kim trước. Sau đó, các cánh quân mở đường với quân số 10 vạn người tấn công vào mục tiêu chủ chốt của kẻ địch. Tướng Mông Cổ cũng rất bình tĩnh trong trận chiến giúp tinh thần binh sĩ đều ổn định. Quân Kim chưa thấy lực lượng tiếp ứng vội hoảng loạn và bỏ chạy. Theo sử sách, xác quân Kim nằm la liệt trên một diện tích rộng hàng trăm dặm. Chỉ một trận chiến duy nhất mà binh lực hơn trăm năm tích trữ của nhà Kim bị hủy diệt hoàn toàn. Trận đánh này buộc nhà Kim phải đầu hàng trong đau đớn.
*Xâm chiếm vùng Trung Đông và Đông Âu 
Tư vấn luật
Sau hơn chục năm đánh nhau cùng nhà Tây Hạ và nhà Kim, Thành Cát Tư Hãn tỏ ý mệt mỏi. Năm 1218, ông cử sứ giả sang tỉnh phía đông đế quốc Khwarezm - một nước do những chiến binh Mamluk người Turk ở Ba Tư thành lập - xin thảo luận khả năng buôn bán với nước này. Thống đốc tỉnh này đã giết chết sứ giả quân Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn vô cùng tức giận, sai 20 vạn quân sang Khwarezm trả thù. Với chiến lược và chiến thuật vượt trội cùng quân sĩ tinh nhuệ, quân Thành Cát Tư Hãn mau chóng tiêu diệt quốc gia Khwarezm. Viên thống đốc dám xúc phạm Thành Cát Tư Hãn đã bị đổ bạc nóng chảy vào tai và mắt.
Năm 1220, Thành Cát Tư Hãn nghe theo đề nghị của mãnh tướng Tốc Bất Đài chia đạo quân Mông Cổ thành hai cánh. Thành Cát Tư Hãn dẫn quân chủ lực về Mông Cổ bằng cách đi xuyên qua Afghanistan và Ấn Độ. Cánh quân còn lại do Tốc Bất Đài chỉ huy, hành quân qua vùng Kavkaz, tấn công vào Armenia và Azerbaijan. Quân Mông Cổ đã phá hủy Gruzia, chiếm trung tâm thương mại và quân sự của cộng hòa Genova, tiến sát nách Biển Đen.
Một sự kiện xảy ra là khi trở về cố quốc, quân của Tốc Bất Đài bị liên quân Cuman-Kipchak gốc Thổ ở phía tây Biển Đen lên tới 80.000 lính tấn công. Chỉ huy của đạo quân Nga Kiev này là Mstislav Dũng cảm và Mstislav III. Dù Tốc Bất Đài gửi sứ giả xin cầu hòa nhưng người đưa tin đã bị quân Nga hành quyết. Tốc Bất Đài nổi xung, ra lệnh tấn công quân Nga Kiev và đánh tan đạo quân này tại sông Kalka năm 1223. Quân Mông Cổ càn quét khắp lãnh thổ Nga và chỉ dừng lại ở sông Samara (một chi lưu của sông Volga, chảy qua hai tỉnh Orenburg và Samara, liên bang Nga ngày nay) khi bị tướng Ghabdulla Chelbir chỉ huy phục kích gây tổn hại nặng nề.
Tư vấn pháp luật
Sau thất bại “liểng xiểng”, quân Nga chấp nhận lời cầu hòa. Nga dù hòa nhưng vẫn trong tư thế nhục nhã và phải chịu thần phục, cống nạp cho Thành Cát Tư Hãn. Sử sách ghi lại rằng, để ăn mừng chiến thắng, Tốc Bất Đài đã để một tấm ván lớn lên đầu 6 vương công Nga, trong đó có tướng Mstislav III. Họ bị tấm ván này đè tới chết. Thành Cát Tư Hãn không bao giờ chịu thua trận và dù sau khi chết, ông vẫn tiếp tục trả thù những gì dang dở. 10 năm sau ngày ông mất, cánh quân Mông Cổ một lần nữa quay trở lại Nga dưới sự chỉ huy của Bạt Đô, chinh phục hoàn toàn lãnh thổ Nga Kiev và Bolga Bulgar. Mối thù năm xưa được trả lại đầy đủ.
*Kết quả các cuộc xâm lược của Đế chế Mông Cổ
Ở thời điểm hùng mạnh nhất, đế quốc Mông Cổ trải dài 9.700 km, diện tích lãnh thổ lên tới 24 triệu km2,  tương đương 16% diện tích đất liền của Trái Đất và thống trị 100 triệu thần dân. Thành Cát Tư Hãn là “ông chủ” của đế quốc Mông Cổ thời kì hùng mạnh nhất thế giới. Hàng chục triệu người đã chết nơi vó ngựa của quân Thành Cát Tư Hãn đi qua. Theo như các số liệu của các nhà sử học Iran như Rashid-ad-Din Fadl Allah thì người Mông Cổ đã giết khoảng trên 70.000 dân ở Merv (thành phố Mary tại Turkmenistan ngày nay) và trên một triệu dân ở Nishapur (thủ phủ tỉnh Khorasan, ở phía đông bắc Iran) .
Trung Quốc cũng chịu sự suy giảm bi thảm về dân số. Trước khi người Mông Cổ xâm lược, Trung Quốc có khoảng 100 triệu dân; sau khi hoàn thành việc xâm lấn năm 1279, điều tra dân số năm 1300 cho thấy chỉ còn khoảng 60 triệu dân. Nhiều học giả cho rằng chính quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn gây ra nguyên nhân cái chết của 40 triệu người Trung Quốc dù điều này chưa được kiểm chứng.
*Lời dặn trước khi chết
Trước khi chết, Thành Cát Tư Hãn nói ra chiến lược tác chiến giữa 3 đế quốc lớn là Mông Cổ, Kim và Nam Tống. Ông nói: "Quân tinh nhuệ của Kim ở Đồng Quan, phía nam chiếm cứ Liên Sơn, phía bắc bị hạn chế bởi sông lớn, như thế khó đánh nhanh. Tống và Kim có mối thù truyền kiếp, giả liên Tống thì đánh Kim sẽ dễ. Bởi lúc này Kim nóng vội, trưng binh hàng vạn, tiếp tế khó khăn, người ngựa mệt mỏi, ta sẽ đánh thắng". Nói xong, Thành Cát Tư Hãn tắt thở. Ông qua đời gần Lục Bàn Sơn, Trung Quốc năm 1227, thọ 66 tuổi. Nguyên nhân cái chết của ông vẫn còn nhiều bí ẩn, trong đó có giả thuyết về ngã ngựa, bị đầu độc hoặc người Đảng Hạng giết hại. Đảng Hạng là một tộc người nói tiếng Khương và đã thiên di đến khu vực Tây Bắc Trung Quốc trước thế kỷ 10.
II/ Tổ chức & Chiến lược quân sự của Đế quốc Mông Cổ
Thành công của Thành Cát Tư Hãn ngày nay được nhìn nhận chủ yếu nhờ kế sách quân sự tài tình cũng như hiểu được năng lực của đối phương. Ông có một hệ thống do thám rất mạnh và nhanh chóng có được các công nghệ mới của kẻ địch.
Quân lính Mông Cổ được rèn luyện khắc nghiệt, tuyệt đối trung thành dưới trướng Thành Cát Tư Hãn sẽ đảm nhiệm khả năng trinh sát. Họ sẽ cưỡi những con ngựa thấp bé của Mông Cổ nhưng độ gan lì và hoạt động tầm xa rất ưu việt. Khi biết được thông tin mật, những người lính này sẽ sử dụng hệ thống báo hiệu, đuốc và khói để truyền tin. Ngoài ra là cách sử dụng trống hay cờ hiệu cũng mang nhiều thông tin quan trọng.
Tư vấn luật
Trong số 80.000.000 quân tinh nhuệ, mỗi người lính ra trận đều mang theo đầy đủ cung tên, lá chắn, dao rựa và thòng lọng. Họ cũng mang theo túi đựng đồ ăn, dụng cụ và quần áo ấm. Những chiếc túi có khả năng chống nước này là một bình dưỡng khí quan trọng nếu quân sĩ phải vượt sông.
Quân kỵ binh thường có kiếm ngắn, giáo mác, áo giáp, rìu chiến và móc. Những chiếc móc có tác dụng kéo kẻ địch ngã khỏi lưng ngựa để dễ bề tiêu diệt. Lính của Thành Cát Tư Hãn sống cả đời trên thảo nguyên nên họ rất rành cưỡi ngựa, bắn cung. Ưu điểm lớn nhất của những người lính này là điều khiển ngựa chạy nước đại nhưng vẫn rảnh tay để bắn tên hạ đối thủ. Khả năng sắp xếp đội hình cũng như quân hậu cần của Thành Cát Tư Hãn giúp quân sĩ không mệt mỏi và có thể giao chiến nhiều ngày liên tiếp.
Chiến thuật quân sự tài tình của quân đội Thành Cát Tư Hãn đã giúp đế chế này chinh phục hầu hết châu Á, Trung Đông và một phần Đông Âu. Nền tảng ban đầu của chiến lược này là cách thức điều quân kiểu du mục. Các cấu phần còn lại được chính Thành Cát Tư Hãn và tướng lĩnh của mình sáng tạo ra.
*Cấu trúc quân đội
Nền tảng quan trọng nhất của quân đội Mông Cổ là kỉ luật dựa trên cấu trúc xã hội và sự tuân lệnh tuyệt đối. Theo nhà thám hiểm Giovanni de Pian, những người Mông Cổ “là chủng người biết nghe lệnh nhất thế giới”. Người Mông Cổ không bao giờ dám nói dối và tôn trọng tuyệt đối tướng lĩnh của mình. Thông lệ chọn lính dựa trên huyết thống với vua hoặc do binh sĩ khác tiến cử.
Giữa các đơn vị quân đội không được phép thuyên chuyển binh sĩ. Chỉ huy của mỗi cấp độ có quyền lực tuyệt đối trong việc ra quyết sách mà họ cho là phù hợp nhất. Cấu trúc ra lệnh này chứng minh tính hiệu quả và linh hoạt, nhất là khi quân Mông Cổ có thể tách ra thành từng tốp nhỏ để phục kích kẻ địch. Mỗi người lính có trách nhiệm với vũ khí của mình. Gia đình và vật nuôi của binh sĩ sẽ thường tháp tùng họ trong mỗi cuộc viễn chinh.
Tầng lớp tinh hoa lãnh đạo trong quân đội Mông Cổ được gọi tên là “Kheshig”. Chức năng của họ là lực lượng bảo vệ cho hoàng đế cũng như huấn luyện các binh sĩ trẻ tuổi.
*Tính linh hoạt
Mỗi người lính Mông Cổ phải nuôi từ 3 đến 4 con ngựa. Thay đổi ngựa giúp họ có khả năng di chuyển với tốc độ cao mà không làm đuối sức vật nuôi. Quân Mông Cổ có thể sống trong điều kiện hết sức khắc nghiệt hoặc chỉ cần uống sữa ngựa cầm hơi. Điều này giúp quân Mông Cổ rất linh động và không phụ thuộc vào thức ăn trồng trọt. Trong lần xâm lược Hungary năm 1241, quân Mông Cổ đi 160km/ngày. Sự linh hoạt cũng giúp một người lính thu thập tin tức, rà soát địa hình dễ dàng hơn đối phương.
Trong cuộc xâm lăng vào Kievan Rus, quân Mông Cổ coi sông băng là đường cao tốc. Mùa đông là thời điểm tấn công ưa thích của quân Mông Cổ vì đối phương khi đó sẽ ít hoạt động.
Hoạt động đơn lẻ giúp quân Mông Cổ ít bị tấn công bằng cung tên so với việc tập hợp thành một quần thể. Nếu nhận thấy quân địch suy yếu, người chỉ huy sẽ đánh trống, phất cờ yêu cầu binh sĩ cầm khiên vào vị trí. Lúc này, cuộc tấn công tổng lực sẽ tiêu diệt những tàn quân cuối cùng.
Khi đánh vào châu Âu, nơi chú trọng đội hình đội ngũ của lực lượng kị binh, quân Thành Cát Tư Hãn tránh giao đấu trực diện mà sử dụng cung tên tiêu diệt kẻ địch từ xa. Nếu áo giáp của quân châu Âu quá dày, họ sẽ tấn công vào ngựa chiến.
*Luyện tập và kỉ luật
Bài tập bắt buộc với lính Thành Cát Tư Hãn là điều khiển ngựa, bắn cung, đội hình tác chiến. Bài tập này đi kèm kỉ luật được đặt ở mức cao nhất. Dù vậy, quân Mông Cổ không quá cứng nhắc trong việc áp đặt binh sĩ, miễn là chiến thuật đề ra được tuân thủ. Quân Mông Cổ phải tuân thủ vô điều kiện cấp trên và đặc biệt là hoàng đế. Nếu một người lính bỏ trốn khi giao chiến, 9 người còn lại trong đội hình sẽ bị xử tử.
*Kị binh
60% lính mông cổ là kị binh bắn cung, số còn lại là mặc giáp hạng nặng và cung thủ. Kị binh nhẹ của Mông Cổ thực sự là “nhẹ nhàng” so với tiêu chuẩn thời điểm đó. Điều này giúp lính cưỡi ngựa của Mông Cổ có thể thực thi chiến thuật dễ dàng so với những kị sĩ giáp áo nặng nề của châu Âu.
Những người lính còn lại trong quân đội Thành Cát Tư Hãn trang bị nặng hơn với khiên để cận chiến sau khi cung thủ làm rối loạn đội hình địch. Lính Mông Cổ thường mang mã tấu và rìu.
Quân Mông Cổ bảo vệ ngựa giống cách họ tự bảo vệ mình, đó là che phủ bằng lớp kim loại. Giáp ngựa chia làm 5 phần và bảo vệ những phần trọng yếu như trán và thân mình. Ngựa chiến Mông Cổ nhỏ nhưng gan lì và hoạt động đường xa  tốt. Chúng chịu được thời tiết khắc nghiệt, ngay cả trong mùa đông giá rét ở Nga.
Ngựa Mông Cổ không cần ăn uống mỗi ngày và có thể tự tìm cỏ để sinh tồn. Trước đây từng có cuộc đua ngựa 30km giữa ngựa Mông Cổ và ngựa Ả Rập hay Thoroughbred, tuy nhiên ngựa Mông Cổ chạy đường xa tốt hơn hẳn. Khả năng tác chiến dài hơi giúp Thành Cát Tư Hãn có được lợi thế lớn trước quân địch trong thế trận dài ngày.
Điểm yếu duy nhất của ngựa Mông Cổ là chậm chạp. Chúng thua trong những cuộc đua nước rút với ngựa phương Tây. Dù vậy, quân châu Âu thường trang bị nặng nề nên vẫn bị ngựa Mông Cổ bỏ xa. Lính Thành Cát Tư Hãn thường tới địa điểm tấn công nhanh hơn dự tính của quân địch từ 7 tới 10 ngày.
Tư vấn làm sổ đỏ
*Hậu cần
Quân đội Thành Cát Tư Hãn thường có xe ngựa đi kèm, mang theo lương thực và vũ khí như cung tên, rìu chiến. Trở ngại duy nhất với quân Mông Cổ là không tìm được thức ăn, nước uống cho ngựa nuôi. Điều này khiến quân Mông Cổ từng gặp khó khăn trong trận đánh với người Mamluk ở Syria do khí hậu quá khô cằn. Khi đánh nhau trong trận Mohi, vùng đồng bằng rộng lớn của Hungary không đủ thức ăn khiến gia súc, ngựa chiến bị đói.
*Liên lạc
Quân Mông Cổ có một hệ thống trạm ngựa giao liên tương tự hệ thống ở Ba Tư cổ. Hệ thống bưu chính này của quân Mông Cổ được xem là ở quy mô lớn đầu tiên kể từ thời La Mã. Ngoài ra, quân Mông Cổ sử dụng cờ hiệu, tù và, cung tên chỉ dấu trong các trận đánh.
*Đạo quân kharash
Một chiến thuật được Thành Cát Tư Hãn và những hoàng đế Mông Cổ sau này sử dụng là “đạo quân kharash”. Khi chiếm được một vùng nào đó, quân Mông Cổ sẽ bắt giữ dân địa phương và ép họ đứng ở tiền tuyến. Những “lá chắn sống” này sẽ hứng trọn tên của kẻ địch và giúp lính Mông Cổ an toàn. Đạo quân kharash cũng được dùng để phá tường rào của đối phương.
*Chiến thuật
Nghệ thuật chiến trận của quân đội Thành Cát Tư Hãn nói riêng là sự kết hợp của kỉ luật, rèn luyện, giao liên. Lính Mông Cổ được tập luyện cho mọi khả năng đánh trận nên họ xử lý rất thuần thục trên thực địa. Không giống những nước khác, quân Mông Cổ bảo vệ chỉ huy rất tốt. Kỉ luật và các bài tập cho phép quân Mông Cổ đánh trận không cần chỉ huy liên tục.
Nếu có thể, chỉ huy quân Mông Cổ sẽ tìm địa điểm có vị trí cao nhất rồi đưa ra quyết định chiến lược trong trận chiến. Ngoài ra, vị trí cao giúp họ quan sát hiệu lệnh tốt hơn so với ở trên mặt đất. Cuối cùng, vị trí này an toàn hơn khi giao chiến.
Quân phương Tây chú trọng vào phẩm chất cá nhân, yêu cầu người chỉ huy phải dũng cảm, kiên gan. Ngược lại, quân Mông Cổ coi chỉ huy là tài sản vô giá. Một tướng Mông Cổ như Tốc Bất Đài không thể cưỡi ngựa do tuổi cao và quá béo, nhưng người này vẫn được quân sĩ tôn trọng tuyệt đối. Tốc Bất Đài là cánh tay phải của Thành Cát Tư Hãn.
*Tình báo và chiến sách
Quân Thành Cát Tư Hãn do thám quân địch rất cẩn trọng trước mỗi lần ra trận. Trước khi xâm lược châu Âu, Tốc Bất Đài và Bạt Đô, hai tướng tài dưới thời Thành Cát Tư Hãn được mệnh danh là “bách chiến bách thắng”, dành hẳn 10 năm trinh sát “Lục địa già”. Mọi con đường ở La Mã, các tuyến hàng hải quan trọng, mức độ quản lý của mỗi vùng đất đều được tính toán chi tiết.
Khi xâm lược một khu vực, quân Mông Cổ làm tất cả mọi cách để chiếm toàn bộ thành phố hoặc thị trấn trọng yếu. Một số chiến thuật “ưa thích” là đổi dòng chảy của một con sông qua thành phố, chặn nguồn tiếp tế hoặc dùng “biển người địa phương” tràn vào địa điểm định tấn công. Khi dòng người ồ ạt tràn vào thành phố, lương thực, nước uống ở đây sẽ bị tiêu hao nhanh chóng và quân Mông Cổ chỉ đợi đối phương đầu hàng.
*Tâm lý chiến
Quân Mông Cổ sử dụng tâm lý chiến rất hiệu quả, nhất là khi muốn truyền bá sự sợ hãi và lo sợ tới một thành phố. Lí do bởi quân Mông Cổ không muốn chiến tranh xảy ra để thành phố cần xâm lược bị phá hủy tan hoang. Khi một nơi đầu hàng, người dân phải tham gia vào quá trình cung cấp vật lực, nhân lực cho trận chiến tiếp theo của quân Mông Cổ.
Chiến thuật quân Thành Cát Tư Hãn hay sử dụng là chia nhỏ đội hình, tấn công du kích để khiến đối phương cảm giác choáng ngợp. Tấn công bên sườn hoặc vờ rút lui là hai chiến sách thường được sử dụng nhất.
Một kĩ thuật khác quân Thành Cát Tư Hãn hay dùng là xuất hiện ở một ngọn đồi cao rồi lại có mặt ở địa điểm khác định sẵn. Mục đích là khiến đối phương cảm giác quân Mông Cổ có mặt ở mọi nơi, từ mọi hướng với lực lượng vô cùng áp đảo. Nếu áp sát quân địch vào ban đêm, mỗi lính Mông Cổ được yêu cầu đốt 5 ngọn đuốc để tạo cảm giác “ngợp” với đối phương.
Ngoài ra, quân Mông Cổ cũng thường buộc cành cây vào đuôi ngựa hoặc rải lá đằng sau để tạo cảm giác quân số rất đông đảo. Mỗi người lính nuôi 3 tới 4 con ngựa nên việc này cũng dễ dàng hơn khi áp dụng tâm lý chiến.
Tư vấn pháp luật
Nguồn: Luật sư tổng hợp
Hãy chia sẻ với chúng tôi trên mạng xã hội:

Bình luận trao đổi

Hãy chắc chắn rằng bạn nhập vào ( ) thông tin cần thiết mà chỉ ra. HTML code đang không được phép .

 
 
   
 
 

Bài viết khác

Hỗ trợ

Luật sư Phạm Việt (Tư Vấn)

Luật sư Nguyễn Hoàng (Tư Vấn)

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online:
151
Hôm nay:
758
Hôm qua:
162
Tất cả:
417,699
Top