Giải quyết tranh chấp nhà đất

Khi xảy ra tranh chấp, khiếu kiện về nhà đất, các bên cần thực hiện theo các bước sau:
Bước 1:
1. Các bên tranh chấp về nhà đất tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp nhà đất thông qua hoà giải ở cơ sở do trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố chủ trì.
2. Nếu hòa giải thành thì sẽ được lập thành biên bản thống nhất do các bên tham gia cùng ký xác nhận. Sau đó hồ sơ sẽ được gửi lên UBND xã, phường, thị trấn là cơ quan quản lý nhà nước về nhà đất tại địa phương để lập hồ sơ theo dõi.
Bước 2:
1. Trong trường hợp hoà giải tại cơ sở không thành (Bước 1) thì các bên có quyền gửi đơn dến UBND xã, phường, thị trấn nơi có nhà đất tranh chấp để yêu cầu giải quyết.
2. UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.
3. Thời hạn hoà giải là 30 ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.
4. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.
5. Nếu hoà giải thành thì sẽ được lập thành biên bản thống nhất do các bên tham gia cùng ký xác nhận, vụ việc tranh chấp sẽ chấm dứt. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn sẽ lập hồ sơ hoà giải thành và theo dõi, dôn đốc các bên thực hiện theo cam kết.
Bước 3:
Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên không nhất trí thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được giải quyết như sau:
a) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;
b) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.
Căn cứ pháp lý:
- Hiến pháp
- Luật Đất đai
- Luật khiếu nại, tố cáo
- Nghị định 136/NĐ – CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo.
Hãy chia sẻ với chúng tôi trên mạng xã hội:

Bài viết khác

Hỗ trợ

Luật sư Phạm Việt (Tư Vấn)

Luật sư Nguyễn Hoàng (Tư Vấn)

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online:
51
Hôm nay:
74
Hôm qua:
633
Tất cả:
361,580
Top