Toàn cảnh cuộc chiến vùng Vịnh 1990 -1991

Cuộc chiến vùng Vịnh bắt đầu khoảng cuối năm 1990 và kết thúc đầu năm 1991 là một cuộc chiến tranh giữa Iraq với liên minh của Liên Hiệp Quốc (LHQ) do Mỹ đứng đầu (chiếm 74% lực lượng).
I/ Nguyên nhân của cuộc chiến 
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh này, xuất phát do những mâu thuẫn tồn tại từ lâu giữa hai nước Iraq - Kuwait, phía Iraq cho rằng quốc gia nhỏ bé Kuwait từng được coi là một phần lãnh thổ tự nhiên của Iraq và đã bị chủ nghĩa thực dân Anh tách ra, cho nên chính quyền Iraq không bao giờ chấp nhận tính hợp pháp của nền độc lập hay chủ quyền này của Kuwait, và sự kiện quân đội Iraq xâm chiếm Kuwait ngày 2/8/1990 với lý do cho rằng Kuwait đã "khoan nghiêng" giếng dầu của họ vào biên giới Iraq để hút trộm dầu của Iraq đã thổi bùng cuộc chiến vùng Vịnh. 
Tư vấn làm sổ đỏ 0908893458
Nguyên nhân các bên đưa ra là như vậy, nhưng câu hỏi đặt ra là tại sao Iraq hay nói đúng hơn là chế độ của tổng thống Saddam Hussein lại chọn phương án và thời điểm đó để đánh chiếm Kuwait? Có nhiều lời giải thích cho việc này như: Việc đòi sáp nhập Kuwait về Iraq được tuyên truyền và miêu tả như là một bước trên con đường tiến tới một Liên hiệp Ả Rập rộng lớn hơn; Trong suy nghĩ của các lãnh đạo Iraq luôn lo ngại cuộc chiến với Iran sẽ lại tái diễn trong tương lai nên cần phải kiểm soát được vịnh Péc-xích trong đó có lãnh thổ Kuwait; Ngoài ra, phong trào Intifada lần thứ nhất của người Palestine đang ở cao trào, và hầu hết các nước Ả Rập, gồm cả Kuwait, Ả Rập Saudi và Ai Cập đang phải phụ thuộc vào phương Tây, vì thế tổng thống Saddam Hussein muốn xuất hiện với vai trò là một chính khách Ả Rập đứng lên chống lại Israel và Mỹ.v.v.. Nhưng theo tác giả bài viết này thì ngoài các lý do nêu trên ra còn có lý do chế độ của tổng thống Saddam Hussein lúc đó có uy tín và quyền lực rất lớn tại khối Ả-rập nói riêng và Trung Đông nói chung. Thời điểm này Iraq được đánh giá là một trong 20 nước có mức sống và chăm sóc y tế cao nhất thế giới; Iraq còn được xem là mặt trận xung kích của khối Ả-rập trong việc chống kẻ thù chung là Hồi giáo Iran do có đường biên giới chung và kéo dài với Iran; Khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô vẫn còn và Mỹ lúc đó vẫn là đồng minh của Iraq (do cùng chống Iran), trong khi đó ở trong nước tổng thống Saddam Hussein vừa là lãnh đạo nhà nước cao nhất, vừa là lãnh tụ tối cao về tôn giáo nên được nhân dân Iraq rất sùng kính. Với tất cả lý do đó khiến Saddam Hussein tin rằng việc xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ Kuwait bằng cuộc tiến công chớp nhoáng sẽ đặt thế giới vào chuyện đã rồi và sẽ thuận theo tình hình thực tế do Iraq sắp đặt.
Dịch vụ làm sổ đỏ tại hà nội 0908893458
Nhưng Saddam Hussein đã nhầm, bởi việc xâm chiếm đất nước Kuwait thời điểm đó là hành động trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc, trong đó Kuwait là một quốc gia thành viên có chủ quyền lãnh thổ đã được công nhận; Chế độ cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô đang rối ren và tan rã mạnh; Mỹ và các nước phương Tây lo ngại nếu Iraq chiếm Kuwait và làm chủ vùng vịnh Péc-xích sẽ thao túng nguồn dầu mỏ và giá dầu trên thế giới, lúc đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế - chính trị toàn thế giới; Khối Ả-rập thì lo ngại sau khi chiếm Kuwait, Iraq sẽ đòi làm bá chủ và tiếp tục tiến đánh các nước khác trong khối tiếp theo. Vì vậy, Hội đồng Bảo an LHQ đã ra Nghị quyết lên án cuộc xâm lược của Iraq và đòi Iraq rút ngay lập tức và không điều kiện các lực lượng của Iraq ra khỏi Kuwait, đồng thời Hội đồng bảo an LHQ cũng cho phép sử dụng tất cả những biện pháp can thiệp nếu Iraq không chịu rút quân ra khỏi Kuwait. 
II/ Diễn biến của cuộc chiến
Sau khi có Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Mỹ George H.W.Bush (Bush cha) thông báo rằng Mỹ sẽ thực hiện chiến dịch bảo vệ toàn diện, quy mô lớn nhằm ngăn chặn Iraq với tên gọi “Lá chắn sa mạc”. Cầu không vận lớn nhất trong lịch sử nối Mỹ, châu Âu, Ả Rập Saudi, các lực lượng chiến đấu chủ lực, khí tài và vũ khí được điều động tới vùng Vịnh.
Các tàu sân bay hạt nhân lớn nhất của Mỹ được điều tới vịnh Oman và biển Hồng Hải. Ngày 5.8, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Bộ Tư lệnh Trung tâm tuyên bố sẽ đưa quân sang Ả Rập Saudi và rút đi khi hoàn thành chiến dịch. Vua Fahd của Ả Rập Saudi ngày 5.8.1990 cũng gửi yêu cầu nhờ Mỹ giúp đỡ.
Hai tàu chiến USS Eisenhower và USS Independence trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu từ ngày 8.8 và 48 chiến đấu cơ F-15 (Đại bàng tung cánh) cũng hạ cánh tại sân bay Ả Rập Saudi để tuần tra không phận, ngăn ngừa Iraq có hành động quá mức. Hai chiến hạm khác là USS Missouri và USS Wisconsin cũng lên đường tới vùng Vịnh, nâng tổng số quân Mỹ tại khu vực lên con số nửa triệu lính.
Lực lượng Liên Hiệp Quốc do Mỹ dẫn đầu gồm 34 quốc  gia, Mỹ chiếm 74% quân số với hơn 660.000 quân.
Song song lúc đó, các giải pháp ngoại giao cũng được đưa ra và Washington tuyên bố sẽ không đánh Iraq nếu quốc gia này rút quân vô điều kiện khỏi Kuwait. Tuy nhiên, Iraq tuyên bố chỉ rút quân chừng nào Syria rút quân khỏi Lebanon và Israel rút quân khỏi bờ Tây, dải Gaza và cao nguyên Golan.
Ngày 12.1.1991, Quốc hội Mỹ thông qua quyết định cho phép Tổng thống George Bush được toàn quyền sử dụng lực lượng quân sự để tấn công Iraq nếu nước này không rút quân khỏi Kuwait. Các quốc gia khác đồng minh với Mỹ cũng thực hiện điều tương tự.
dịch vụ làm sổ đỏ 0908893458
Rạng sáng 17.1.1991, tên lửa hành trình Tomahawk của Mỹ phóng cấp tập từ các tàu chiến vào mục tiêu quân sự, đồn chỉ huy của Iraq mở đầu cho "Chiến dich bão táp sa mạc" huyền thoại. Tòa nhà thông tin tại thủ đô Baghdad là nơi đầu tiên trúng tên lửa. Năm tiếng đồng hồ sau những cuộc tấn công đầu tiên, đài phát thanh quốc gia Bagdad phát đi một giọng nói được xác định là của Saddam Hussein tuyên bố rằng: "Cuộc chiến vĩ đại, cuộc chiến của mọi cuộc chiến đã bắt đầu. Bình minh thắng lợi đã rất gần khi cuộc thử thách cuối cùng đã đến."
Về phía Iraq, tuy quân đội Iraq là một lực lượng thiện chiến, kinh qua nhiều thử thách với số lượng quân thường trực hơn 1 triệu người, 10 vạn xe tăng và xe bọc thép, 3.000 khẩu pháo cỡ lớn. Iraq có lực lượng mặt đất lớn nhất vùng Vịnh và lớn thứ 4 thế giới. Ngoài ra, quân đội nước này sở hữu 700 máy bay chiến đấu với các loại hiện đại như E18, Mig-29 và Su-24. Tên lửa của Iraq rất đa dạng từ tên lửa phòng không SAM, tên lửa Roland,  pháo cao xạ 7.000 khẩu... Lực lượng hải quân của Iraq có tàu tuần dương nhưng có trang bị tên lửa Styx, tầm bắn dưới 100km và nhiều thủy lôi các loại. Iraq sở hữu tên lửa Scud, tầm bắn 600-700km mang đầu đạn truyền thống, sinh học và hóa học. Có thông tin Iraq còn chuẩn bị sản xuất vũ khí hạt nhân. Dù có lực lượng đông nhưng quân đội Iraq “không tinh”. Trong khi Iraq chỉ sở hữu máy bay thế hệ 2 và vài chiếc thế hệ 3 thì Mỹ và liên quân đã có máy bay thế hệ 4.
Về phía quân đội Mỹ đã sử dụng trong "Chiến dịch bão táp sa mạc” hơn 20 loại máy bay, 44 đời. Mỗi ngày, Mỹ điều hơn 1.000 đợt không kích từ mọi địa hình. Các loại vũ khí, máy bay chiến đấu, ném bom, bộ chỉ huy thông tin, điều khiển của Mỹ đều mạnh hơn Iraq nhiều lần. Ngay từ đầu chiến dịch, Mỹ đã tập trung phá hủy các cơ sở thông tin, căn cứ không quân và phòng không của Iraq. Vậy nhưng, Iraq không hề có bất kì phản kháng nào và nhanh chóng bại trận dưới chiến dịch quy mô lớn nhất của Mỹ.
Những vũ khí được sử dụng trong chiến dịch này gồm các vũ khí dẫn đường chính xác (hay "bom thông minh"), bom bầy, BLU-82 "daisy cutters" và tên lửa hành trình. Iraq trả lời bằng cách phóng 8 tên lửa Scud vào Israel ngày hôm sau. Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của liên minh là phá hủy các cơ sở không quân và phòng không của Iraq. Nhiệm vụ này được nhanh chóng hoàn thành và trong suốt thời gian xảy ra cuộc chiến, không quân liên minh hầu như không gặp phải trở ngại nào khi hoạt động. Dù khả năng phòng không của Iraq tốt hơn so với dự đoán, liên minh chỉ thiệt hại một máy bay trong ngày mở màn chiến tranh. Máy bay tàng hình đã được sử dụng nhiều trong giai đoạn đầu tiên này nhằm tránh các hệ thống tên lửa đất đối không SAM dày đặc của Iraq; khi đã phá hủy xong những hệ thống đó, các kiểu máy bay khác có thể được đem ra sử dụng với độ an toàn cao hơn. Đa số các phi vụ tấn công xuất phát từ Ả Rập Saudi và sáu nhóm tàu sân bay của liên minh ở Vịnh Péc-xích.
Dịch vụ làm sổ đỏ tại hà nội 0908893458
Các mục tiêu tiếp theo của liên quân là các sở chỉ huy và thông tin. Những nhà lập kế hoạch bên phía liên quân hy vọng sự kháng cự của Iraq sẽ nhanh chóng sụp đổ nếu hệ thống chỉ huy và liên lạc của họ bị phá hủy. Trong tuần đầu tiên của chiến dịch không quân Iraq ít khi xuất kích và cũng không gây thiệt hại gì đáng kể, 38 máy bay MiG của Iraq đã bị không quân liên quân bắn hạ. Ngay sau đó, không quân Iraq bắt đầu chạy trốn sang Iran, với khoảng 115 tới 140 chiếc. Cuộc bỏ chạy ồ ạt của không quân Iraq sang Iran khiến các lực lượng liên quân rất kinh ngạc và không kịp phản ứng gì trước khi các máy bay Iraq đã "an toàn" tại các sân bay Iran. Iran không bao giờ trả lại các máy bay đó cho Iraq và chỉ cho phép các phi công trở về nước vào năm sau. Ngày 23 tháng 1, Iraq bắt đầu đổ gần 1 triệu tấn dầu thô xuống vịnh, gây ra vụ tràn dầu lớn nhất trong lịch sử.
Giai đoạn thứ ba và là lớn nhất của chiến dịch không quân nhắm tới các mục tiêu quân sự trên khắp Iraq và Kuwait: các bệ phóng tên lửa Scud, các địa điểm vũ khí hủy diệt hàng loạt, những cơ sở nghiên cứu vũ khí và các lực lượng hải quân. Khoảng một phần ba không lực liên quân được dành riêng để tấn công các bệ phóng tên lửa Scud, nằm trên các xe tải và do đó rất khó tìm kiếm để tiêu diệt. Ngoài ra, họ cũng nhắm vào các mục tiêu có thể sử dụng được cho cả mục đích dân sự và quân sự: các nhà máy điện, các lò phản ứng hạt nhân, các thiết bị thông tin liên lạc, các cảng biển, các nhà máy lọc và phân phối xăng dầu, các đường sắt và các cây cầu. Các nhà máy điện trên toàn quốc bị phá hủy. Tới cuối cuộc chiến, việc sản xuất điện chỉ còn đạt mức 4% so với trước chiến tranh. Bom đã phá hủy tất cả các đập chính, đa số những trạm bơm chính và nhiều nhà máy xử lý nước thải. Một số đội thuộc các lực lượng đặc biệt của Mỹ và Anh được đưa thâm nhập vào phía tây Iraq để tìm kiếm và phá hủy các tên lửa Scud. Tuy nhiên, vì thiếu những điều kiện địa lý thích hợp để ẩn náu khiến các hoạt động của họ gặp nhiều khó khăn và nhiều người đã bị giết hoặc bị bắt giữ.
Hiệu quả của chiến dịch không quân là đã làm thiệt hại mười phần trăm toàn bộ lực lượng quân sự Iraq được triển khai trên sa mạc. Chiến dịch này cũng ngăn chặn một cách có hiệu quả việc tiếp tế của Iraq cho những đơn vị đồn trú chiến đấu phía trước, và khiến số quân đông đảo (450.000) người không thể tập trung lại được và là nhân tố căn bản dẫn đến thắng lợi.
Ngày 22 tháng 2 năm 1991, Iraq đồng ý với một thỏa thuận ngừng bắn do Liên Xô đề xuất. Thỏa thuận kêu gọi Iraq rút quân khỏi những vị trí mà họ đã chiếm trong ba tuần sau khi ngừng bắn hoàn toàn, và đề xuất việc theo dõi ngừng bắn và rút quân sẽ do Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc giám sát. Mỹ phản đối đề nghị này nhưng nói rằng việc rút quân của Iraq sẽ không bị tấn công, và trao cho Iraq hai mươi bốn giờ để rút các lực lượng quân đội.
Ngày 24 tháng 2, các lực lượng do Mỹ cầm đầu bắt đầu "Chiến dịch cát sa mạc" (Desert Sand), phần trên mặt đất của chiến dịch của họ. Ngay sau đó, lính thủy đánh bộ Mỹ và các đồng minh Ả Rập của họ thâm nhập sâu vào Kuwait, thu thập hàng nghìn quân Iraq đang tan rã, đã suy yếu và mất tinh thần sau chiến dịch ném bom ồ ạt của liên quân. Vài ngày sau chiến dịch, Thành phố Kuwait được giải phóng bởi các đơn vị thuộc quân đội Kuwait.
Cùng lúc ấy, Quân đoàn VII của Mỹ tung ra cuộc tấn công ồ ạt bằng xe bọc thép vào Iraq, từ phía tây Kuwait, khiến quân Iraq hoàn toàn bất ngờ. Sườn trái của đội quân này được Sư đoàn bọc thép hạng nhẹ số 6 của Pháp bảo vệ (gồm cả các đơn vị của Tiểu đoàn Lê dương Pháp), và sườn phải bởi Sư đoàn thiết giáp số 1 Hoàng gia Anh. Khi liên quân đã thâm nhập sâu vào lãnh thổ Iraq, họ quay sang phía đông, tung ra những cuộc tấn công vào lực lượng Vệ binh cộng hoà Iraq. Những trận chiến xe tăng nổ ra khi Vệ binh cộng hòa tìm cách rút lui, khiến cho liên quân chiến thắng mà chỉ bị thương vong ở mức thấp nhất.
Đà tiến của liên quân mau lẹ hơn những tướng lĩnh Mỹ trông đợi. Ngày 26 tháng 2, quân đội Iraq bắt đầu rút khỏi Kuwait, đốt cháy các giếng dầu mà họ bỏ lại. Một đoàn quân Iraq dài dằng dặc rút lui dọc theo đường cao tốc Iraq-Kuwait. Đoàn quân này bị liên quân tấn công liên tục tới mức nó được gọi là "Xa lộ chết". 
Tư vấn pháp luật miễn phí 090889345
*Giai thoại về "Xa lộ chết"
Đây là một trong những trận càn tàn khốc nhất lịch sử chiến tranh được thực hiện ở Iraq, dọc cao tốc 80, cách thủ đô Kuwait 32 km về phía tây. Trong đêm ngày 26-27.2.1991, hàng ngàn quân và dân thường Iraq đang trên đường trở về thủ đô Baghdad sau khi lệnh ngừng bắn được tuyên bố thì vụ việc diễn ra.
Dù biết về lệnh ngừng bắn nhưng Tổng thống George Bush đã yêu cầu quân đội Mỹ trả đũa lên quân lính Iraq. Máy bay của liên quân lập tức xuất quân và tấn công hàng ngàn binh sĩ không trang bị súng ống, đạn dược. Thậm chí, máy bay Mỹ còn bắn hạ nhiều khí tài đi đằng trước và sau của đoàn để giảm tốc độ của quân đội Iraq kéo về nước.
Sau đó, hàng loạt những đợt không kích bằng máy bay ném bom tới tấp vào đoàn xe Iraq không sức kháng cự trong nhiều giờ liền. Kết quả, 2.000 khí tài quân sự Iraq bị bắn phá, xác hàng ngàn người lính Iraq cháy đen thui chạy dọc tuyến đường được gọi tên là “Xa lộ chết”. Thi thể  hàng trăm người khác nằm rải rác trên cao tốc số 8 nối với tỉnh Basra (Iraq). Hình ảnh khủng khiếp từ Xa lộ Tử thần được xem là nỗi ám ảnh lớn nhất trong cuộc chiến vùng Vịnh.
Tư vấn làm sổ đỏ 0908893458
Trước ngày hành quân, quân đội Iraq tuyên bố rằng Ngoại trưởng nước này chấp thuận yêu cầu ngừng bắn của Liên Xô và yêu cầu toàn bộ binh sĩ Iraq rút lui khỏi Kuwait theo nghị quyết 660 của Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Bush (cha) không tin vào hành động đầu hàng của Iraq và đáp trả: “Không có dấu hiệu nào cho thấy quân Iraq sẽ rút lui. Thực tế, Iraq sẽ tiếp tục đánh nhau. Chúng ta cần chấm dứt cuộc chiến này”.
Tổng thống Iraq Saddam Hussein tuyên bố trên sóng truyền thanh rằng lệnh rút lui đã được thực hiện trên hai cao tốc chính và hoàn thành trong ngày 27.2.1991. Đáp trả tuyên bố này, Tổng thống Bush nói đây là “sự xúc phạm” và “dối trá trắng trợn”.
Thay vì chấp thuận yêu cầu xin hàng của Iraq và rời bỏ chiến trường, Tổng thống Bush và giới chức quân sự Mỹ lên kế hoạch tiêu diệt càng nhiều lính Iraq bỏ trốn càng tốt. Các đợt không kích bắt đầu từ nửa đêm. Ban đầu, máy bay Mỹ và Canada tấn công đoàn xe đi trước và đi sau để cản trở bước tiến của quân đội Iraq. Sau đó, những phương tiện quân sự bị kẹt ở giữa trở thành đối tượng bị dội bom không nương tay.
Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Trung ương Mỹ nhận được yêu cầu từ chính quyền Bush rằng “không được phép để bất kì ai hoặc bất kì thứ gì rời khỏi thành phố Kuwait”. Hậu quả, mọi phương tiện di chuyển trên cao tốc đều bị săn lùng và tìm diệt. Những binh sĩ Iraq đầu hàng bằng cách hạ súng ống đều bị bắn chết. Không một người Iraq nào sống sót.
“Những chiếc xe chở quân bị đánh bom tan nát tới mức chúng bị vùi sâu dưới lớp đất đá và không thể phân biệt nổi bên trong có người hay không. Cửa kính vỡ vụn. Xe tăng vỡ tan thành chục mảnh, nằm chỏng chơ giữa sa mạc”, nhà báo Mỹ gốc Lebanon Joyce Chediac miêu tả lại trận càn ở "Xa lộ chết".
“Hành động tấn công quân Iraq đang rút lui vi phạm nghiêm trọng Công ước Geneva năm 1949, trong đó cấm việc tàn sát binh sĩ đối phương đã đầu hàng”, Joyce viết. “Quân Iraq không bị dẫn giải khỏi Kuwait bởi chính quyền Bush hay quân đội Mỹ. Họ không tổ chức lại quân đội hay có ý định đánh nhau tiếp. Họ chỉ đơn giản là đầu hàng và đang về nhà. Tấn công những người lính đang trên đường về nhà là tội ác chiến tranh”.
Giải thích cho việc làm này của Mỹ, một chỉ huy chiến trường Mỹ ở Iraq nói rằng họ buộc phải dùng vũ lực vì “quân lính Iraq không chịu tuân lệnh”. Vào năm 1995, tướng Norman Schwakopf nói lí do xảy ra vụ việc “Xa lộ chết": “Lí do dầu tiên chúng tôi đánh bom đường cao tốc là bởi có lượng lớn khí tài quân sự tập trung ở đây. Tôi ra lệnh cho mọi chỉ huy cấp dưới rằng tôi muốn tiêu diệt mọi thiết bị, vũ khí quân sự của Iraq. Thứ hai, những kẻ trở về Iraq không chỉ là thường dân mà còn có tội phạm, những kẻ hiếp dâm, tấn công dân lành ở Kuwait và đang tìm cách bỏ trốn”.
Thống kê không chính thức cho thấy có từ 1.800 tới 2.700 khí tài quân sự của Iraq bị bắn cháy trên cao tốc 80. Tổng số người Iraq thiệt mạng ước tính lên tới cả chục ngàn người. Một số người không chạy ra khỏi xe khi máy bay oanh tạc đã bị nướng cháy thành than.
Tư vấn luật 0908893458
*Chiến dịch trên bộ
Điều ngạc nhiên nhất của chiến dịch trên bộ là tỷ lệ thương vong thấp của liên quân. Điều này vì quân Iraq không thể tìm ra một biện pháp phản công thích hợp đối với những ống nhòm hồng ngoại và loại đạn năng lượng động lực từ các xe M1 Abrams. Phương tiện này cho phép những chiếc xe tăng liên quân chiến đấu và tiêu diệt một cách hiệu quả các xe tăng Iraq từ khoảng cách xa gấp ba lần khoảng cách có thể tác chiến của xe tăng Iraq. Các lực lượng Iraq cũng không thể lợi dụng ưu thế có thể có từ việc sử dụng chiến thuật chiến tranh đô thị - chiến đấu bên trong Thành phố Kuwait, có thể gây ra những thương vong đáng kể đối với các lực lượng tấn công. 
Lần duy nhất Iraq phản công mạnh mẽ là ngày 29.1.1991 khi 1.500 quân với 80 xe tăng tấn công lực lượng liên quân ở Khafji, Ả Rập Saudi. Dù vậy, khi trận chiến này kết thúc, Iraq cũng phải rút quân sau 2 ngày do lính thủy đánh bộ Mỹ và không quân tiến vào yểm trợ. Việc không chiếm được vị trí chiến lược Khafji là sai lầm nghiêm trọng của Iraq. Chỉ cần làm chủ khu vực trọng yếu này, Iraq sẽ kiểm soát lượng lớn dầu cung cấp cho Trung Đông và tấn công lực lượng Mỹ triển khai dọc chiến tuyến.
Kết thúc "Chiến dịch bão táp sa mạc” với cách đánh thần tốc và có trọng điểm, Mỹ chiếm được ưu thế quá lớn và Iraq thất bại từ những giây phút đầu tiên. Tạp chí Time của Mỹ ước tính trong 38 ngày đêm không kích, Mỹ phá hủy hơn 1.685/5.500 xe tăng của Iraq, 1.400 khẩu pháo, 97 máy bay tiêm kích. Toàn bộ hệ thống cầu cống, đường xá bị phá hủy nghiêm trọng. Hơn 45 vạn quân của Iraq co cụm và không phát huy được sức mạnh của lực lượng đông nhất vùng Vịnh.
Ngày 27/2/1991: Mỹ tuyên bố Kuwait được giải phóng sau gần 7 tháng bị Iraq chiếm đóng và tuyên bố ngừng các cuộc tiến công của đồng minh.
III/ Kết thúc chiến tranh & hậu quả 
Ngày 28/2/1991: Iraq chấp nhận toàn bộ 12 Nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ và tổng thống Saddam Hussein ra lệnh ngừng chiến đấu. Chiến tranh chấm dứt!
1/ Thương vong của liên minh
- Bộ Quốc phòng Mỹ báo cáo có 148 binh sĩ tử trận, cộng một phi công được ghi nhận là mất tích (hài cốt đại úy phi công Michael Scott Speicher người được coi là mất tích đã được tìm thấy vào tháng 7 năm 2009 tại vùng núi hẻo lánh ở miền tây Iraq) (145 người Mỹ chết vì tai nạn). Vương quốc Anh có 24 binh sĩ tử trận, Pháp 2, và các quốc gia Ả Rập có tổng cộng 39 thương vọng.
Trước chiến tranh, các giới chức của Mỹ đã phỏng đoán con số thương vong của liên quân sẽ là vào khoảng 30.000-40.000 người.
2/ Thương vong của Iraq
- Ước đoán có đến 100.000 người Iraq bị thiệt mạng. 
- Một báo cáo do Không quân Mỹ uỷ nhiệm đã ước tính là có khoảng từ 10.000-12.000 binh sĩ Iraq tử trận trong chiến dịch của không quân và khoảng 10.000 thương vong trong cuộc chiến trên bộ. .
- Chính phủ Iraq tuyên bố có khoảng 2.300 thường dân thiệt mạng trong chiến dịch của không quân, đa số người chết là do một cuộc không kích bằng máy bay tàng hình F-117 vào một nơi mà được tin là trung tâm thông tin liên lạc của Iraq tại Baghdad nhưng cũng là nơi phục vụ như một nơi trú ẩn máy bay.
- Theo Dự án nghiên cứu sự chọn lựa khác cho quốc phòng thì có đến 3.664 thường dân Iraq và khoảng 20.000 đến 26.000 binh sĩ bị giết chết trong cuộc xung đột này.
IV/ Bài học
Chiến tranh vùng Vịnh đã tỏ rõ uy lực của thiết bị điện tử và kỹ thuật tác chiến điện tử. Hệ thống C3I toàn cầu (chỉ huy, thông tin, chế áp, xử lý tin tức tình báo) được quân đội Mỹ xác lập từ thập kỷ 1970 đã chứng tỏ đầy đủ sức mạnh. Từ Nhà Trắng đến Bộ chỉ huy chiến trường vùng Vịnh và các quân binh chủng, từ máy bay, tàu chiến đến xe tăng, xe bọc thép, dù nhiều nước tham gia, mặt trận rộng lớn, chiến tuyến dài, nhiều điểm, vũ khí trang bị phức tạp, nhưng các thiết bị chỉ huy, chế áp, thông tin vẫn vận hành đồng bộ, linh hoạt. Chúng truyền đạt tin tức nhanh, thống nhất. Đặc biệt, máy tính và kỹ thuật vi xử lý trong hệ thống C3I và sự ứng dụng trong trang bị vũ khí, kỹ thuật nhìn đêm, kỹ thuật chế áp điện tử được ứng dụng trên máy bay, tàu chiến, xe tăng, tên lửa, bom, đạn pháo đã làm cho hiệu quả tác chiến của vũ khí tăng lên nhiều. Chúng đã tấn công chính xác và phá hủy các mục tiêu quân sự của Iraq, làm cho Iraq không thể tác chiến được.
Tuy nhiên, có một số chỉ trích chính quyền Bush về quyết định của họ cho phép Saddam Hussein tiếp tục giữ quyền lực, chứ không tiếp tục tấn công chiếm Baghdad và sau đó lật đổ chính phủ của ông ta. Trong một cuốn sách viết chung năm 1998 tựa đề, "Một thế giới đã thay đổi" (A World Transformed), Bush và Brent Scowcroft đã đưa ra lý lẽ rằng một sự tấn công như vậy sẽ làm tan vỡ lực lượng Liên quân và sẽ gây ra nhiều tổn thất chính trị và nhân mạng không cần thiết đi cùng với nó.
Năm 1992, Ngoại trưởng Hoa Kỳ trong thời gian chiến tranh, Dick Cheney, cũng đưa ra quan điểm tương tự:
“Tôi tự hỏi nếu chúng ta đã tiến vào đó, thì hôm nay các lực lượng của chúng ta vẫn đang ở Baghdad. Chúng ta sẽ điều hành đất nước. Chúng ta sẽ không thể rút bớt quân ra và không thể đưa bất kỳ ai về nước.
Và điểm cuối cùng mà tôi nghĩ là cần phải đưa ra vấn đề về thương vong. Tôi không nghĩ rằng bạn có thể thực hiện điều đó mà không có thêm tổn thất khá lớn của phía Hoa Kỳ. Và trong khi tất cả mọi người đều rất ấn tượng trước mức độ tổn thất nhỏ của cuộc xung đột (1991), đối với 146 người Mỹ thiệt mạng trong khi thi hành nhiệm vụ và đối với gia đình họ, đó không phải là một cuộc chiến ít tổn thất.
Và câu hỏi trong đầu tôi là bao nhiêu thương vong thêm nữa của Hoa Kỳ sẽ tương xứng với giá trị của Saddam (Hussein)? Và câu trả lời là nó chẳng đáng gì lắm. Vì thế, tôi nghĩ chúng ta đã làm đúng, cả khi chúng ta quyết định trục xuất ông ta khỏi Kuwait, và khi tổng thống đưa ra quyết định rằng chúng ta đã hoàn thành các mục tiêu của mình và chúng ta sẽ không sa lầy vào đó khi tìm cách chiếm và cai quản Iraq.”

Thay vì tiếp tục can thiệp sâu thêm với lực lượng quân sự của mình, Mỹ đã hy vọng rằng Saddam sẽ bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính từ bên trong. CIA đã sử dụng các mạng lưới của mình tại Iraq để tổ chức một cuộc nổi dậy nhưng thất bại. 
Nguồn: Luật sư tổng hợp
Hãy chia sẻ với chúng tôi trên mạng xã hội:

Bình luận trao đổi

Hãy chắc chắn rằng bạn nhập vào ( ) thông tin cần thiết mà chỉ ra. HTML code đang không được phép .

 
 
   
 
 

Bài viết khác

Hỗ trợ

Luật sư Phạm Việt (Tư Vấn)

Luật sư Nguyễn Hoàng (Tư Vấn)

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online:
154
Hôm nay:
414
Hôm qua:
562
Tất cả:
381,065
Top