Biên giới lãnh thổ là gì?
Luật sư tư vấn miễn phí: 0908 893 458 - 0932 297 115
Tư vấn online
Luật sư Phạm Việt
090 889 3458 - 093 229 7115
luatsuphamviet@gmail.com
Luật sư Lan Hương
0983 123 028 - 0932 313 819
luatsulanhuong@gmail.com
Bài viết quan tâm nhiều
Tìm hiểu thuật ngữ pháp lý
Biên giới lãnh thổ là gì?

Các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Bãi cạn lúc chìm lúc nổi
là vùng đất nhô cao tự nhiên có nước biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước. Khi toàn bộ hay một phần bãi cạn đó cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải thì ngấn nước thủy triều thấp nhất ở trên bãi cạn này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải.

2. Biên giới quốc gia
 “Hàng rào pháp lý” được đánh dấu bằng hệ thống mốc quốc giới, tọa độ trên đất liền hay trên mặt nước và mặt phẳng thẳng đứng để xác định giới hạn phạm vi chủ quyền của một quốc gia đối với lãnh thổ trên đất liền, lãnh thổ trên biển, trên không và dưới lòng đất của mình.

Biên giới quốc gia là nới phân chia chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia với các quốc gia khác và/hoặc với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của chính quốc gia đó.

Biên giới trên đất liền được hoạch định và đánh dấu bằng hệ thống mốc quốc giới; biên giới trên biển được phân định và đánh dấu bằng các tọa độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, của đảo và quần đảo được xác định phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế và điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia hữu quan; biên giới trên không là mặt phẳng thẳng đứng từ biên giới trên đất liền và biên giới trên biển lên vùng trời; biên giới trong lòng đất về lý thuyết là mặt phẳng thẳng đứng từ biên giới trên đất liền và biên giới trên biển xuống đến tâm của trái đất.

Điều 1 Luật Biên giới quốc gia năm 2004 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường thẳng và mặt phẳng thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

3. Biên giới lịch sử
là biên giới quốc gia hình thành từ lâu đời, do quá khứ lịch sử để lại. Cơ sở để xác định biên giới lịch sử thường là các điều ước có nội dung giản đơn, thiếu khoa học. Việc hoạch định, đánh dấu đường biên giới lịch sử trên thực địa còn thô sơ, thiếu cụ thể, không rõ ràng và do vậy thường làm xảy ra tranh chấp giữa các quốc gia có chung đường biên giới.

4. Biển kín hay nửa kín
là vịnh, vũng hay vùng biển do hai hay nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay với đại dương thông qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn hay chủ yếu do lãnh hải và vùng đặc quyền về kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành. Các quốc gia ven bờ biển kín hay nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc sử dụng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Trực tiếp hoặc qua trung gian của một tổ chức khu vực thích hợp, các quốc gia ven bờ này cố gắng: a) Phối hợp trong việc quản lý, bảo tồn, thăm dò và khai thác các tài nguyên sinh vật của biển, b) Phối hợp trong việc sử dụng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, c) Phối hợp các chính sách nghiên cứu khoa học và, nếu có thể, thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học chùng, và d) Nếu có thể, mời các quốc gia khác hay các tổ chức quốc tế hữu quan cùng tham gia hợp tác.

5. Bồi đắp lãnh thổ
là sự bồi đắp tự nhiên lãnh thổ quốc gia bằng việc hình thành các khu vực đất liền mới như vùng đất bồi nơi cửa sông, các hòn đảo mới xuất hiện trong lãnh hải…Trong cả hai trường hợp kể trên, đường biên giới quốc gia trên biển (ranh giới ngoài của lãnh hải) có thể bị thay đổi do thay đổi điểm và đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải.

6. Các loại mốc quốc giới:
Tùy theo mục đích, ý nghĩa của từng vị trí mốc và căn cứ vào sự thỏa thuận của các quốc gia hữu quan, mốc quốc giới có thể có các loại sau:

1) Mốc lớn hay mốc đại, được cắm ở những nơi mật độ qua lại biên giới lớn như cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính;

2) Mốc trung hay mốc chính, được cắm ở những vị trí đường biên giới đổi hướng, thay đổi địa hình, dễ xảy ra tranh chấp;

3) Mốc nhỏ hay mốc phụ, được cắm trong khoảng cách giữa hai mốc chính để làm rõ đường biên giới trên thực địa;

4) Mốc đơn, được sử dụng ở những vị trí chỉ cần cắm một cột mốc và thường được cắm ở chính tâm đường biên giới quốc gia; trường hợp không cắm ở chính tâm đường biên giới thì có mũi tên chỉ rõ hướng đi và khoảng cách từ mốc tới đường biên giới quốc gia;

5) Mốc đôi, được cắm trên những đoạn biên giới theo sông suối trên đường giao thông có phương tiện đi lại; khi cắm mốc đôi, vị trí mỗi mốc thường được bố trí sao cho đối xứng nhau qua một điểm cần đánh dấu trên đường biên giới;

6) Mốc ba, được sử dụng để đánh dấu chính xác vi trí đường biên giới ở những nơi sông suối hợp lưu, chuyển hướng chảy dòng;

7) Mốc đặc biệt, được cắm ở vị trí ngã ba biên giới của ba đường biên giới quốc gia hoặc ở những vùng ngập lụt, cửa sông, bờ biển, hồ.

7. Cửa khẩu
là nơi thực hiện việc xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, xuất khẩu và qua lại biên giới quốc gia, bao gồm cửa khẩu đường bộ, cửa khẩu đường sắt, cửa khẩu đường thủy nội địa, cửa khẩu đường hàng hải và cửa khẩu đường hàng không.

8. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải
là các đoạn đường thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Phương pháp đường cơ sở thẳng chỉ được áp dụng trong trường hợp: a) Bờ biển bị khoét sâu và lồi lóm hoặc nếu có chuỗi đảo nằm sát ngay và chay dọc theo bờ biển hoặc; b) bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và những đặc điểm tự nhiên khác.

Tuyến đường cơ sở không được chệch qua xa hướng chung của bờ biển và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức được đặt dưới chế độ nội thủy. Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúcc chìm, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước biển hoặc việc vạch các đường cơ sở đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế. Phương pháp đường cở thẳng do một quốc gia áp dụng không được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng đặc quyền  kinh tế.

Điều 4, khoản 1 Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2004 quy định: Đường cơ sở là đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc bờ biển và các đảo gần bờ do Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Tuyên bố ngày 12/11/1982 quy định hệ thống đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam để tính chiều rộng lãnh hải, bao gồm 10 đoạn nối 11 điểm có tọa độ kèm theo. Hệ thống đường cơ sở này vẫn chưa được khép kín. Điểm khởi đầu 0 còn chưa được xác định, là giao điểm của đoạn thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu (Việt Nam) với đảo Poulo Wai (Campuchia) và đường phân định vùng biển của hai nước trong vùng nước lịch sử chung sẽ được hai nước đàm phán giải quyết vào thời gian thích hợp. Điểm cuối cùng A11 nằm tại đảo Cồn Cỏ, trên cửa Vịnh Bắc Bộ.

9. Đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải
là ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận.

10. Đường phát quang biên giới
là công trình kỹ thuật bảo vệ biên giới nằm sát đường biên giới quốc gia, được quyd dịnh theo điều ước hoạch định biên giới giữa hai quốc gia có chung đường biên giới nhằm bảo đảm thuận lợi cho việc quan sát, nhận biết đường biên giới quốc gia trên thực địa, phát hiện sớm những vi phạm biên giới và những thay đổi của đường biên giới.

11. Khu vực biên giới
làbộ phận lãnh thổ quốc gia nằm tiếp giáp biên giới quốc gia, có quy chế riêng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của mỗi quốc gia quy định để bảo vệ biên giới quốc gia. Khu vực biên giới thướng là khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng và an ninh. Quy chế khu vực biên giới điều chỉnh hoạt động của người, phương tiện ra vào, cư trú và sản xuất… trong khu vực biên giới. Đối với một số khu vực biên giới đặc biệt có thể áp dụng quy chế cấp phép ra vào cho những người không thường trú ở đó. Khu vực biên giới thường được thiết lập trong phạm vi xã, thị trân nằm sát đường biên giới.

Điều 6 Luật biên giới quốc gia năm 2004 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định khu vực biên giới gồm: 1) khu vực biên giới trên đất liền gồm xã, phường, thị trân có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền; 2) khu vực biên giới trên biển tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo; và 3) khu vực biên giới trên không gồm phần không gian dọc theo biên giới quốc gia có chiều rộng 10 km tính từ biên giới quốc gia trở vào. Trong khu vực biên giới có vành đai biên giới cũng có thể thiết lập vùng cấm nếu thấy cần thiết để đảm bảo các yêu cầu về quốc phòng, an ninh và kinh tế.

12. Lãnh hải
vùng biển ven bờ lãnh thổ lục địa hay lãnh thổ đảo của quốc gia ven biển thuộc chủ quyền và là bộ phận không tách rời của lãnh thổ quốc gia ven biển đó. Chủ quyền của các quốc gia ven biển được mở rộng đến vùng trời cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của lãnh hải. Tất cả các quốc gia ven biển đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không vượt qua 12 hải lý tính từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Ranh giới bên ngoài của lãnh hải là biên giới trên biển của quốc gia ven biển. Tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải theo quy định của Công ước của Liện hợp quốc về Luật biển năm 1982.

13. Lãnh thổ quốc gia
là bộ phận của trái đất thuộc chủ quyền của một quốc gia nhất định. Lãnh thổ quốc gia bao gồm đất liền và lòng đất nằm phía dưới, vùng biển và vùng trời nằm phía trên. Đất liền là toàn bộ lãnh thổ trên đất liền nằm trong phạm vi biên giới quốc gia, kể cả hải đảo, quần đảo. Vùng biển bao gồm nội thủy và lãnh hải. Lòng đất là toàn bộ lòng đất nằm phía trong mặt thẳng đứng từ biên giới trên đất liền và biên giới trên biển xuống đến tâm của trái đất. Vùng trời là khoảng không nằm phía trên đất liền và biên giới trên biển lên đến một độ cao nhất định. Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quốc gia thực hiện quyền tối cao của mình đối với lãnh thổ vốn được coi là một bộ phận không tách rời của chủ quyền quốc gia.
Với vị trí của mình, Việt Nam có lãnh thổ bao gồm “đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”, kể cả lòng đất của đất liền, hải đảo, đáy và lòng đất dưới đáy biển như quy định tại Điều 1 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

cấp sổ đỏ, tách sổ đỏ, tranh chấp quyền sử dụng đất, tư vấn luật đất đai, thủ tục mua bán đất, thủ tục mua đất
Các thông tin khác:
Hợp pháp hóa lãnh sự là gì?
Tổ chức tín dụng là gì?
Thương mại là gì?
Sở hữu trí tuệ là gì?
Ngân hàng là gì?
Đầu tư là gì?
Đấu giá là gì?
Kiểm toán là gì?
Chứng khoán là gì?
Chất lượng sản phẩm hàng hóa là gì?