Quy định về Án phí dân sự sơ thẩm
Luật sư tư vấn miễn phí: 0908 893 458 - 0932 297 115
Tư vấn online
Luật sư Phạm Việt
090 889 3458 - 093 229 7115
luatsuphamviet@gmail.com
Luật sư Lan Hương
0983 123 028 - 0932 313 819
luatsulanhuong@gmail.com
Bài viết quan tâm nhiều
TRANH LUẬN
Quy định về Án phí dân sự sơ thẩm
ÁN PHÍ DÂN SỰ SƠ THẨM VÀ XÁC ĐỊNH NGƯỜI CHỊU ÁN PHÍ DÂN SỰ SƠ THẨM: “NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN, BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN” THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN NAY.

          Án phí dân sự sơ thẩm và ý nghĩa của án phí dân sự sơ thẩm

Hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể về án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên có thể giải thích rằng án phí dân sự sơ thẩm là số tiền mà đương sự phải nộp để phục vụ việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Việc thu án phí, lệ phí vừa phản ánh đúng bản chất của vụ việc dân sự vừa có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ việc dân sự. Mặt khác cũng góp phần bảo đảm thực hiện được chính sách tài chính của nhà nước ta. Cụ thể:

Trong vụ việc dân sự, đương sự là người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án, Tòa án giải quyết vụ việc dân sự là vì lợi ích riêng của các đương sự nên buộc đương sự phải chịu một phần các chi phí tố tụng là hoàn toàn hợp lý.

Việc thu án phí liên quan đến tài chính của đương sự nên có tác dụng buộc họ phải suy nghĩ cẩn thận trước khi khởi kiện, yêu cầu tòa án giải quyết việc dân sự và thực hiện các công việc khác, từ đó ngăn ngừa, hạn chế được việc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không có căn cứ, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự gây khó khăn, phức tạp cho việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án.

Việc thu án phí còn bổ sung cho nguồn ngân sách nhà nước, bù đắp một phần chi phí của nhà nước cho công tác xét xử của Tòa án, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

 Mức án phí dân sự sơ thẩm

Mức án phí là số tiền mà đương sự phải nộp để giải quyết vụ án. Mức án phí có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với đương sự mà còn với tòa án bởi nó góp phần đảm bảo nguồn tài chính. Về nguyên tắc, mức án phí được xác định theo giá ngạch hoặc không theo giá ngạch. Từ Nghị định số 70/NĐ-CP/1997 tới Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án 2009, đều sử dụng cách phân chia này.

Ngoài ra, có một cách phân loại khác, dựa trên quan hệ tranh chấp với một nhóm vụ án kinh doanh thương mại (trước đây được gọi là các vụ án kinh tế). Tuy nhiên, cách phân loại này không làm nổi bật được sự khác biệt, cơ sở của việc tính mức án phí. Vì thế, về cơ bản, cách phân chia theo giá ngạch vẫn được áp dụng phổ biến hơn.

Vụ án dân sự không có giá ngạch

Đối với các vụ án dân sự không có giá ngạch, đây là những vụ án mà “trong đó yêu cầu của đương sự không phải là một số tiền hoặc không thể xác định được giá trị bằng một số tiền cụ thể.”[1] Với những trường hợp như vậy, mức án phí phải nộp sẽ được ấn định sẵn theo quy định của pháp luật. Cụ thể là 200.000 đồng, trừ trường hợp tranh chấp kinh doanh, thương mại thì là 2.000.000 đồng. Đây là quy định tương đối hợp lý, về hai mặt là trường hợp không có giá ngạch và mức giá ngạch.

Trường hợp không có giá ngạch

Về các trường hợp không tính giá ngạch, các yêu cầu của đương sự không xác định được bằng một số tiền cụ thể. Trong trường hợp đó, không thể xác định được mức án phí dựa trên giá trị của tranh chấp và quyền lợi mà các bên có thể hưởng. Việc xác định mức án phí dựa trên mức độ phức tạp của vụ việc cũng tỏ ra bất khả thi bởi lẽ mức độ phức tạp không thể “cân đong đo đếm” chính xác mà phụ thuộc vào nhận định chủ quan của mỗi cá nhân. Chính vì thế, việc đồng nhất hóa những trường hợp như vậy tạo sự đơn giản, dễ áp dụng trong thực tế.

 Mức án phí trong trường hợp không có giá ngạch

Về mức án phí cụ thể phải nộp trong trường hợp này, trước đây, theo nội dung của Nghị định số 70/1997 của Chính phủ, mức án phí đối với các vụ án dân sự không có giá ngạch là 50.000 đồng và vụ án kinh tế là 500.000 đồng. Theo tính toán, từ năm 1997 tới nay, tỉ lệ trượt giá khoảng hơn hai lần. Vì vậy, việc tăng mức án phí lên 4 lần dù không đúng với mức độ trượt giá nhưng cũng là bước đi hợp lý, cần thiết, có xét đến sự thay đổi của tình hình kinh tế xã hội trong tương lai. Hơn nữa, mức án phí như vậy thực chất vẫn chưa đáng kể so với chi phí mà tòa án cần để giải quyết bất cứ vụ án nào. Có chăng, đó chỉ là khoản chi phí mang tính hỗ trợ, đóng góp phần nào cho tòa án giải quyết vụ án mà thôi.

Lý giải về quy định mức án phí đối với vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại cao hơn so với các vụ án dân sự khác, có thể dựa vào tính chất, mục đích của những tranh chấp này. Dù rằng không thể so sánh về sự quan trọng, ý nghĩa của các tranh chấp nhưng cũng có thể thấy rằng các tranh chấp kinh doanh thương mại mang tính chuyên nghiệp cao, tác động thường xuyên, trực tiếp và một số lý do khác nên việc quy định mức án phí cao hơn cũng là điều hợp lý và dễ hiểu.

Vụ án dân sự có giá ngạch

Vụ án dân sự có giá ngạch khi “yêu cầu của đương sự là một số tiền hoặc là tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể”. Nguyên tắc xác định mức án phí trong những trường hợp này dựa trên giá trị của tài sản hoặc giá trị tranh chấp. Đối với những vụ án có giá trị tranh chấp thấp thì mức án phí được ấn định ngang với những vụ án không có giá ngạch. Trong các trường hợp giá trị tranh chấp lớn hơn, trong từng khoảng cụ thể sẽ ấn định tỉ lệ phần trăm mức án phí nhất định theo xu hướng giá trị tranh chấp càng lớn, tỉ lệ phần trăm càng nhỏ. Mức cụ thể được quy định tại Danh mục mức án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án 2009.

Về việc lựa chọn những vụ án có giá ngạch như quy định của pháp luật, đây là quy định tương đối hợp lý. Dù rằng mức độ phức tạp, chi phí cho việc giải quyết vụ án không tương ứng với giá trị tài sản tranh chấp, giá trị tranh chấp nhưng những yếu tố đó không phải là căn cứ để xác định mức án phí. Bởi lẽ độ phức tạp vốn dĩ không thể xác định được còn chi phí để giải quyết vụ án của tòa án cũng không đồng đều, nhất quán, phụ thuộc bởi nhiều yếu tố.

Mức án phí được quy định như hiện nay chủ yếu dựa trên cơ sở hướng về phía các đương sự, được xác định dựa trên việc các đương sự sẽ có khả năng thu được hoặc mất đi những lợi ích gì. Khi tham gia vào việc bảo vệ lợi ích được cho là của mình, các đương sự cần phải cân nhắc đến vấn đề mức án phí.

Về tỉ lệ phần trăm án phí phải chịu, cách tính phần trăm giảm dần khi giá trị tranh chấp tăng lên là hoàn toàn hợp lý. Nếu với những vụ tranh chấp có giá trị quá lớn mà tỉ lệ phần trăm án phí phải nộp không thay đổi thì có thể dẫn đến tình trạng số tiền phải nộp rất lớn, vượt xa mục đích của án phí, gây “thiệt hại” không nhỏ cho những người tham gia tố tụng, hạn chế phần nào quyền tham gia tố tụng của những chủ thể hạn chế về điều kiện kinh tế.

Tạm ứng án phí

Khái quát về tạm ứng án phí

Hiện nay, chưa có khái niệm cụ thể về tạm ứng án phí. Trước đây, trước năm 1982, chỉ tồn tại khái niệm “dự phí” tòa án. Ta có thể xây dựng khái niệm về tạm ứng án phí là khoản tiền mà đương sự phải nộp nhằm tạo nguồn tài chính phục vụ việc giải quyết vụ án trước khi tòa án thụ lý và là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm của người nộp. Thông thường, mức nộp tạm ứng án phí sẽ tương ứng với án phí thực tế phải nộp nếu án phí không có giác ngạch và bằng một nửa nếu có giá ngạch. Tiền tạm ứng án phí có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động thụ lý vụ án và thi hành án. Vì vậy, các quy định của pháp luật về vấn đề này tương đối chặt chẽ.

Ý nghĩa pháp lý – các trường hợp đặc biệt

          Tạm ứng án phí là yếu tố quyết định đối với giai đoạn thụ lý. Trước khi thụ lý vụ án, đương sự phải nộp tạm ứng án phí hoặc xác định mình thuộc trường hợp không phải nộp tạm ứng án phí, được miễn nộp tạm ứng án phí. Vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 171 BLTTDS.

Về các trường hợp không phải nộp tạm ứng án phí, theo quy định của pháp luật trong tố tụng dân sự, chỉ có trường hợp “Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước”. Trong những trường hợp này, cơ quan tổ chức khởi kiện không có quyền, lợi ích bị xâm phạm, việc khởi kiện là do trách nhiệm đối với xã hội. Vì vậy, họ sẽ không phải nộp tiền tạm ứng án phí – đây là quy định để khuyến khích việc thực hiện hoạt động này của các cơ quan tổ chức, phù hợp với nguyên tắc thu tiền tạm ứng án phí.

          Những trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm được quy định cụ thể tại khoản 2, 3, 5, 6, Điều 11, Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án 2009. Những trường hợp này, chủ thể được miễn nộp tạm ứng án phí nhưng có thể họ sẽ phải nộp án phí tùy theo phán quyết của tòa án. Lý do của quy định này là tạo điều kiện cho các chủ thể có khó khăn về tài chính tham gia bảo vệ quyền lợi cho mình. Tuy nhiên, quy định này không loại trừ nghĩa vụ của chủ thể đối với việc nộp án phí sau này, nó chỉ là giải pháp mà nhà làm luật tạo ra cho các chủ thể trong những trường hợp tạm thời. Các chủ thể này, sau khi giành được quyền lợi, có thể sẽ có điều kiện để thanh toán một phần nào đó án phí. Họ cũng sẽ phải cân nhắc tới trường hợp không giành được quyền lợi nên sẽ cẩn trọng hơn trong việc đưa ra các yêu cầu, giảm đi sự phức tạp, khó khăn khi giải quyết vụ việc.

Ngoài ra, còn có trường hợp được miễn nộp một phần tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 14 Pháp lệnh án phí, lệ phí 2009. Đó là những trường hợp có sự khó khăn mà chỉ cần xác nhận của UBND cấp xã. Đây là quy định rất linh hoạt, thể hiện được sự nhân văn của pháp luật Việt Nam.

Về thủ tục nộp tạm ứng án phí, Tòa án có trách nhiệm dự trù án phí và thông báo cho người nộp tới cơ quan thi hành án cùng cấp để nộp trong vòng 15 ngày. Nếu thuộc các trường hợp được miễn, được giảm thì phải gửi đơn kèm theo giấy tờ chứng minh tới tòa án. Trường hợp này chính là một căn cứ khiến cuộc đấu tranh để đưa cơ quan thi hành án quay trở lại thành một cơ quan tư pháp. Lý do để cơ quan thi hành án thu tiền tạm ứng án phí là để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thi hành án sau này. Tuy nhiên, nếu nhìn vào mục tiêu ban đầu của việc thu tạm ứng án phí, có thể thấy rằng mối quan hệ giữa tòa án và cơ quan thi hành án rất chặt chẽ. Vấn đề này sẽ được bàn thảo trong những phần tiếp theo.

Người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

Nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm

Điều 25, Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án 2009 quy định:

“1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định Pháp lệnh này.

2. Trường hợp vụ án có nhiều nguyên đơn mà mỗi số nguyên đơn có yêu cầu độc lập thì mỗi nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng của mỗi người; nếu các nguyên đơn cùng chung một yêu cầu thì các nguyên đơn phải nộp chung tiền tạm ứng án phí.

3. Trường hợp vụ án có nhiều bị đơn mà mỗi bị đơn có yêu cầu phản tố độc lập thì mỗi bị đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo yêu cầu riêng của mỗi người; nếu các bị đơn cùng chung một yêu cầu phản tố thì các bị đơn phải nộp chung tiền tạm ứng án phí.”

Như vậy, có thể nhận thấy rằng việc xác định người có nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí dựa trên sự chủ động của người đưa ra yêu cầu. Người yêu cầu có khả năng lựa chọn còn người không đưa ra yêu cầu độc lập bị hạn chế rất nhiều, vì vậy quy định như trên là hoàn toàn hợp lý. Hơn nữa, một mục đích quan trọng của án phí là hạn chế tình trạng yêu cầu vượt quá, chờ đợi sự “mặc cả” của các đương sự, tạm ứng án phí cần phải hướng về phía những người yêu cầu. Tất nhiên, người có nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí không đồng nghĩa với người có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm. Nếu như trong phần trước, việc nộp tạm ứng án phí được quan tâm bởi ý nghĩa về thủ tục trước khi xét xử sơ thẩm thì trong phần này, vấn đề nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm lại có ý nghĩa vượt trội. Lý giải cho điều này, cần phải đi sâu vào phần tiếp theo.

Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm

Tạm ứng án phí chỉ là phần ứng ra, nộp trước và có thể lấy lại được nếu xác định được người nộp không phải là người có nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm dân sự. Vì vậy, nó chỉ có thể gây ra những khó khăn nhất thời do nguồn tiền không đi vào lưu thông, sinh lợi cho người nộp. Trong khi đó, dù không có nghĩa vụ nộp tạm ứng án phí sơ thẩm dân sự nhưng nếu đương sự bị xác định thuộc trường hợp phải nộp án phí sơ thẩm dân sự thì sẽ bắt buộc phải nộp nếu bản án có hiệu lực. Đây chính là yếu tố thúc đẩy các đương sự tích cực tham gia tố tụng, bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời không đưa ra những yêu cầu thái quá như đã nêu trên. Việc xác định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí hiện nay chủ yếu dựa trên nguyên tắc “có nghĩa vụ đối với yêu cầu không hợp lý”. Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp đặc biệt đối với các vụ việc về hôn nhân gia đình, nghĩa vụ cấp dưỡng,… Cụ thể quy định tại Điều 27, Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án 2009 như sau:

1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.

2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

3. Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận.

4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.

5. Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận. Người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận.

7. Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó.

8. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

9. Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Pháp lệnh này, còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

10. Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch.

11. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa thì phải chịu 50% mức án phí quy định.

12. Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó.

13. Trong vụ án có người không phải nộp hoặc được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm thì những người khác vẫn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều này.”

Việc xác định người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không chỉ được thực hiện trước hoặc tại phiên tòa sơ thẩm mà có thể xác định trong các bản án phúc thẩm, giám đốc thẩm.

Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về án phí dân sự sơ thẩm hiện nay cũn như môt số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về án phí dân sự sơ thẩm.

Những kết quả đạt được: hiện nay, sau khi một số văn bản liên quan đến phí, án phí như Pháp lệnh án phí, lệ phí năm 2009, Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao…ra đời thì ngay lập tức đã phát huy hiệu quả. Nhờ những quy định cụ thể và tương đối chặt chẽ của các văn bản này mà thực trạng vấn đề án phí đã có nhiều khởi sắc. Biểu hiện cụ thể nhất đó là: các cơ quan có thẩm quyền trong việc thu nộp án phí đã thống nhất được phương thức và trình tự thu nộp án phí và những vấn đề lien quan, các chủ thể cũng đã hiểu rõ được những ai và trong những trường hợp nào phải nộp án phí, mức án phí ra sao, những trường hợp nào không phải nộp án phí….Ngoài ra, nhờ những cơ chế đảm bảo mà công tác thi hành án được thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng, hiệu quả, tình trạng chậm, không nộp án phí đã giảm tương đối nhiều.

       Những bất cập còn tồn đọng: tuy đạt được một số thành tựu nhưng trên thực tế và trong quy định của pháp luật vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, một số tồn đọng đó là:

Thứ nhất, tại điểm b khoản 3 Điều 17 của Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP) có quy định: Trường hợp một bên yêu cầu công nhận hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và một bên yêu cầu tuyên bố hợp đồng mua bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu  có yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì ngoài việc chịu án phí không có giá ngạch được hướng dẫn tại điểm a khoản 3 Điều này, người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc bồi thường thiệt hại phải chịu án phí như trường hợp vụ án dân sự có giá ngạch đối với giá trị tài sản phải thực hiện”.  

Theo hướng dẫn này, để xác định nghĩa vụ chịu án phí có giá ngạch cần phải làm rõ thế nào là “Người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc bồi thường thiệt hại”  và thực tế thì có trường các đương sự vừa là nguyên đơn vừa là người có nghĩa vụ thực hiện về tài sản hay bồi thường thiệt hại. Cho nên trong trường hợp nguyên đơn trong vụ án được Tòa án xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì theo quy định  tại khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án thì bị đơn sẽ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận và đương nhiên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với nghĩa vụ về tài sản mà nguyên đơn phải thực hiện vì nó nằm trong yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã được Tòa án xử chấp nhận.

Như vậy, quy định về nghĩa vụ chịu án phí tại Điểm b khoản 3  Điều 17 của Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP và khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí đang có sự mâu thuẫn với nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng và thống nhất trong cách tính án phí khi giải quyết các trường hợp tranh chấp về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu, cần được các cơ quan có thẩm quyền xem xét hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.                                                                                       

Thứ hai, Khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án quy định: “Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước” thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí.

Thực tế hiện nay, một số Doanh nghiệp Nhà nước tham gia các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại có sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước để tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận. Khi tranh chấp phát sinh, các doanh nghiệp này khởi kiện để yêu cầu Tòa án buộc một bên phải trả lại tài sản hoặc thực hiện nghĩa vụ về tài sản là tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp theo như quy định tại Điều 200 của Bộ luật dân sự thì có được xem như là trường hợp khởi kiện để bảo vệ lợi ích của Nhà nước hay không? Và khi khởi kiện các cơ quan, tổ chức này có phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc nếu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện thì có phải nộp tiền án phí hay không?

Thứ ba, đối với khoản án phí dân sự: Pháp luật cần quy định các đương sự phải nộp tạm ứng toàn bộ số tiền án phí nếu họ phải nộp khi thua kiện là điều kiện để toà án thụ lý xét xử vụ việc dân sự. Bất cứ một bản án, quyết định giải quyết một vụ việc dân sự nào được Toà án xét xử đều có phần quyết định về án phí, lệ phí Toà án (trừ những trường hợp được Toà án miễn nộp án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật). án phí, lệ phí Toà án là khoản thu nộp ngân sách nhà nước nên cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành. Thực tế công tác thi hành án dân sự hiện nay cho thấy, có rất nhiều vụ việc thi hành án dân sự bị tồn đọng là do đương sự (bao gồm cả người thắng kiện) không nộp tiền án phí sau khi vụ việc được toà án xét xử. Điều này xuất phát từ việc pháp luật hiện nay quy định chỉ có người khởi kiện vụ kiện dân sự mới có nghĩa vụ phải nộp tiền tạm ứng án phí và coi đây là một điều kiện bắt buộc để toà án có cơ sở xem xét, thụ lý đơn khởi kiện. Tuy nhiên, trong vụ án dân sự có giá ngạch người khởi kiện chỉ phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết. Số tiền tạm ứng án phí này được nộp cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Toà án xét xử sơ thẩm. Khi ra bản án, quyết định, Toà án quyết định nghĩa vụ chịu án phí theo nguyên tắc đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, theo đó, nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận; bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận. Như vậy, trong rất nhiều trường hợp, người thua kiện phải chịu 100% án phí dân sự, nhưng do trước đó họ không phải nộp một khoản tiền tạm ứng án phí nào cả, nên khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự là đi thu khoản án phí này. Tuy nhiên, những người thua kiện thường có tâm lý đã thua kiện lại phải mất tiền án phí nên tìm mọi cách để trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ nộp án phí. Bên cạnh đó, nhiều vụ việc do tài sản tranh chấp có giá trị lớn như nhà, đất, chia thừa kế là bất động sản (xuất hiện nhiều ở nông thôn trong thời gian gần đây)..., nên số tiền án phí cũng không nhỏ (thường là từ vài triệu đồng tới hàng trăm triệu đồng). Việc buộc người thua kiện (nhất là ở nông thôn) nộp toàn bộ số tiền án phí này một lúc là rất khó khăn, vì vậy, cơ quan thi hành án dân sự phải mất rất nhiều thời gian và công sức mới có thể thu được đầy đủ số tiền án phí theo quyết định của Toà án, làm cho nhiều vụ việc tồn đọng kéo dài.

Thứ tư, về án phí trong vụ án ly hôn. Đầu tiên là về cấp dưỡng, khoản 10 Điều 27 Pháp lệnh Án phí quy định như sau: “Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quyết định của Tòa án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch”. 

Theo quy định này thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quyết định của Tòa án là: Người trong vụ án ly hôn có giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung; Người trong vụ án hình sự có giải quyết về cấp dưỡng; Người trong vụ án đòi bồi thường thiệt hại có giải quyết về cấp dưỡng (theo quy định tại Điều 612 BLDS); Người trong vụ án chỉ giải quyết về cấp dưỡng. Cụ thể là vụ án mà nguyên đơn yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng hoặc thay đổi người cấp dưỡng hoặc buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng trốn tránh nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng… (theo quy định tại Chương VI của Luật Hôn nhân và gia đình).

Tóm lại, căn cứ vào các quy định về án phí dân sự sơ thẩm thì trong vụ án ly hôn có thể có vụ án mà nguyên đơn phải chịu bốn loại án phí là: Thứ nhất, án phí yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn (theo quy định tại khoản 4 Điều 131 BLTTDS mà không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn); Thứ hai là án phí cấp dưỡng nuôi con mà nguyên đơn có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung (theo quy định tại khoản 10 Điều 27 Pháp lệnh Án phí); Thứ ba là án phí dân sự đối với giá trị tài sản được chia trong khối tài sản chung vợ chồng có yêu cầu Tòa án phân chia (theo quy định tại khoản 2 Điều 131 BLTTDS và theo quy định tại khoản 9 Điều 27 Pháp lệnh Án phí); Thứ tư là án phí đối với phần nghĩa vụ tài sản mà nguyên đơn phải thực hiện với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đối với nguyên đơn hoặc đối với cả nguyên đơn và bị đơn được Tòa án chấp nhận (theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Pháp lệnh Án phí).

Cá biệt có thể có trường hợp nguyên đơn trong vụ án ly hôn còn phải chịu loại án phí thứ năm là trường hợp nguyên đơn có yêu cầu độc lập về tài sản đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án không chấp nhận (theo quy định tại khoản 1 Điều 131 BLTTDS và quy định tại khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh Án phí).

Kiến nghị hoàn thiện

Trên cơ sở những tồn đọng bất cập như trên, chúng tôi xin đưa ra một số phương án nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về án phái dân sự sơ thẩm như sau:

Thứ nhất, đối với quy định tại khoản 2 điều 10 pháp lệnh về phí và án phí: Chúng tôi cho rằng phần vốn và tài sản mà Nhà nước đầu tư vào Doanh nghiệp phải được xem là lợi ích công (lợi ích của Nhà nước). Các cơ quan, tổ chức này được Nhà nước giao vốn, tài sản để thực hiện nhiều chức năng, nhiệm vụ trong những lĩnh vực khác nhau để phát kinh tế quốc dân. Tranh chấp xảy ra giữa các cơ quan, tổ chức này với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong quá trình sử dụng vốn, tài sản có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước là điều không tránh khỏi. Trong những trường hợp này, việc các Doanh nghiệp Nhà nước khởi kiện để yêu cầu Tòa án buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoàn trả lại tài sản của Nhà nước cần thiết phải được xem là thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, tiền án phí. Bởi lẽ, đối tượng tranh chấp là tài sản phải được nộp vào ngân sách Nhà nước, thuộc trường hợp “tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước” như quy định tại Điều 200 của Bộ luật dân sự.

Do vậy, chúng tôi đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét hướng dẫn quy định tại khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án theo hướng xác định rõ trường hợp như thế nào được xem là “khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích Nhà nước” để thống nhất trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về những trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án.

Thứ hai, đối với việc thu nộp án phí: Để giải quyết những trường hợp này, theo chúng tôi, pháp luật về án phí, lệ phí Toà án cần sửa đổi quy định người khởi kiện chỉ phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết, người bị khởi kiện không phải nộp bất cứ một khoản tiền tạm ứng án phí nào trong vụ án dân sự có giá ngạch như hiện nay, thành quy định tất cả các bên đương sự đều phải nộp số tiền tạm ứng án phí bằng 100% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Toà án thụ lý vụ việc. Qua việc thu tiền tạm ứng án phí ở các cơ quan thi hành án dân sự cho thấy, ở thời điểm phát sinh vụ kiện, tâm lý của các bên đương sự lúc này là sẵn sàng nộp ngay số tiền tạm ứng án phí này để được Toà án phân xử. Số tiền tạm ứng án phí này sẽ được hoàn trả toàn bộ cho người không phải chịu án phí hoặc hoàn trả một phần khi họ phải chịu một phần án phí theo quyết định của Toà án khi xét xử vụ kiện. Khi tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự chỉ phải làm thủ tục nộp ngân sách nhà nước số tiền án phí đương sự phải nộp hoặc trả cho đương sự số tiền tạm ứng án phí họ được hoàn trả theo quyết định của Toà án. Như vậy quyền lợi của các bên đương sự vẫn được đảm bảo, đồng thời phần bản án, quyết định về án phí dân sự của Toà án được thi hành xong một cách dứt điểm với thời gian ngắn nhất, không bị tồn đọng.

Thứ ba, đối với án phí những vụ án ly hôn: Việc nguyên đơn trong vụ án ly hôn phải chịu một loại án phí hay phải chịu nhiều loại án phí là phụ thuộc vào yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tình tiết khác của vụ án. 

Tuy nhiên, người có thẩm quyền giải quyết vụ án cần phải làm rõ từng yêu cầu phải chịu án phí và làm rõ từng trường hợp phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ví dụ yêu cầu ly hôn (phải chịu án phí), yêu cầu chia tài sản chung (phải chịu án phí)… Trường hợp phải chịu án phí như án phí cấp dưỡng định kỳ hàng tháng nuôi con chung hoặc trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được Tòa án chấp nhận. Có như vậy mới không mắc phải sai sót về quyết định án phí đối với đương sự.

 Thứ tư, chúng tôi cho rằng nên đưa cơ quan thi hành án trở lại là một cơ quan tư pháp, thậm chí tiếp tục trực thuộc tòa án như những năm 80 của thế kỷ trước. Thực ra vấn đề này không trực tiếp xuất phát từ việc thu nộp tạm ứng án phí và án phí sơ thẩm dân sự mà được gợi ý từ vấn đề này. Nếu thực hiện như vậy, việc thu nộp án phí sẽ dễ dàng, thuận lợi và chủ động hơn rất nhiều. Cũng không lo ngại tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” trong việc thi hành án.

Nếu có thể sử dụng những kiến nghị trên thì chúng tôi tin tưởng rằng những quy định của pháp luật về án phí dân sự sơ thẩm sẽ hoàn thiện hơn góp phần thực thi tốt hơn trên thực tế.


Quý khách cần tư vấn pháp luật miễn phí xin vui lòng liên hệ theo địa chỉ:
CÔNG TY LUẬT PHẠM VIỆT - Số 151 Phùng Hưng - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Điện thoại: 0908 893 458 - 0932 297 115  - 0932 313 819 - Email:
luatsuphamviet@gmail.com

Các bài viết khác:
TRƯỜNG HỢP MIỄM ÁN PHÍ
Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thời hiệu trong dân sự
Việc xử lý phần di sản hết thời hiệu khởi kiện
Thực tiễn xét xử giải quyết tranh chấp đất đai
Pháp nhân nước ngoài là gì ?
Quan hệ pháp luật hành chính
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật hành chính
Đất phi nông nghiệp là gì ?
Vấn đề di sản chuyển thành tài sản chung
Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Về bí mật đời tư theo pháp luật Việt Nam
Một số vấn đề về quyền nhân thân
Quyền lợi phụ nữ trong Luật Đất đai