Di chúc chung vợ chồng
090 889 3458 - 090 460 7270
Tư vấn online
Luật sư Phạm Việt
090 889 3458 - 093 460 7270
luatsuphamviet@gmail.com
Luật sư Nguyễn Hoàng
096 822 8011
nguyenhuyhoang.biz@gmail.com
Bài viết quan tâm nhiều
Tư vấn Thừa kế
Di chúc chung vợ chồng
Pháp luật ghi nhận quyền lập di chúc chung của vợ, chồng vơi nội dung “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung” (Điều 663 BLDS năm 2005)

Có thể nói di chúc chung của vợ, chồng là sự thể hiện ý chí chung thống nhất của hai vợ, chồng nhằm dịch chuyển khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ, chồng cho người khác sau khi chết.

Nội dung của di chúc

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 652 BLDS 2005 thì: “Nội dung của di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội.” Ngoài ra di chúc chung còn bao gồm các nội dung sau:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản

- Di sản để lại và nơi có di sản

- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ

Hình thức của di chúc chung của vợ, chồng

* Di chúc chung của vợ, chồng được lập dưới hình thức văn bản

Di chúc chung của vợ, chồng được lập dưới hình thức văn bản là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (có thể là viết tay hoặc đánh máy) có chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Nhằm đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, chính xác của bản di chúc, khoản 2 Điều 653 BLDS 2005 có quy định chung về hình thức di chúc: “Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc":

- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng:

Theo quy định tại Điều 655 BLDS 2005 thì:“người lập di chúc phải tự tay viết di chúc và tự tay ký vào bản di chúc”.

Trường hợp này là trường hợp thường gặp nhất. Trong trường hợp này cả vợ và chồng đều minh mẫn, tỉnh táo cùng nhau bàn bạc thống nhất ý chí cùng nhau lập di chúc định đoạt tài sản của mình.

- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

Theo quy định Điều 656 BLDS 2005 thì “trong trường hợp mà người lập di chúc không tể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết

Người viết hộ chỉ là người thể hiện giúp ý chí của người để lại thừa kế bằng văn bản. Vì vậy mà di chúc này vấn được pháp luật thừa nhận. Và người viết hộ cũng có thể là người làm chứng cho di chúc. Theo quy định thì di chúc phải có ít nhất hai người làm chứng và những người làm chứng phải là những người không có quyền và nghĩa vụ liên quan đến di sản thừa kế.

- Di chúc băng văn bản có công chứng hoặc chứng thực:

Theo Điều 657 BLDS 2005 quy định: “Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc”.

Đây là trường hợp di chúc được lập dưới hình thức bằng văn bản sau đó có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, đó có thể là Công chứng Nhà nước hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

- Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực:

Điều 660 BLDS 2005 quy định các trường hợp mà di chúc bằng văn bản được lập có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực mặc dù bản di chúc đó vì những lý do khách quan, chưa thông qua thủ tục công chứng, chứng thực. Đó là các trường hợp:

- Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đôi trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực;

Việc quân nhân tại ngũ không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực di chúc có thể do quân nhân làm nhiệm vụ ở xa cơ quan công chứng hoặc xa Ủy ban nhân dân cấp xã; hoặc vì đang thực thi nhiệm vụ mà quân nhân không thể đến những cơ quan đó công chứng hoặc chứng thực được.

- Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó. Trường hợp này sẽ do cơ trưởng hoặc thuyền trưởng xác nhận khi máy bay chưa hạ cánh, tàu chưa cập bến;

- Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó;

- Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị;

- Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó;

- Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.

* Di chúc chung của vợ, chồng dưới hình thức miệng

Điều 651 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên hủy bỏ”.

Đây là quy định về hình thức di chúc miệng do cá nhân lập. Nếu hiểu theo quy định này thì vợ, chồng có thể lập di chúc chung bằng miệng trong tình trạng tính mạng của hai vợ, chồng bị đe dọa nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết được như đang bị bệnh sắp chết, bị tai nạn có nguy cơ chết… Sau ba tháng kể từ ngày lập di chúc miệng, nếu hai vợ chồng vẫn còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng bị hủy bỏ.

Trân trọng !


Quý khách cần tư vấn xin vui lòng liên hệ: CÔNG TY LUẬT PHẠM VIỆT
Địa chỉ: Số 87 Nguyễn Thái Học - Q. Ba Đình - TP. Hà Nội
Điện thoại: 090 889 3458 - 093 460 7270 
Email:
luatsuphamviet@gmail.com

Các bài viết khác: