Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Luật sư tư vấn miễn phí: 0908 893 458 - 0932 297 115
Tư vấn online
Luật sư Phạm Việt
090 889 3458 - 093 229 7115
luatsuphamviet@gmail.com
Luật sư Lan Hương
0983 123 028 - 0932 313 819
luatsulanhuong@gmail.com
Bài viết quan tâm nhiều
TRANH LUẬN
Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người khác. Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm bồi thường trách nhiệm ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, uy tín , danh dự, nhân phẩm, tài sản của các cá nhân tổ chức khác.

-  Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần.


Căn cứ vào lợi ích bị xâm phạm và những thiệt hại xẩy ra mà trách nhiệm bồi thường được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bù đắp về tinh thần.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường tổn thất về vật chất thực tế được tính bằng tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu thập thực tế đ mất hoặc bị giảm sút.

Trách nhiệm bồi thường thiêt hại về tinh thần được hiểu là người gây thiệt hại cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngồi việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại như sự buồn rầu, sự đau thương…

Việc phân biệt hai loại trách nhiệm này có ý nghĩa trong việc xác định nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xẩy ra và mức bồi thường: Về nguyên tắc người bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xẩy ra và mức bồi thường sẽ bằng mức thiệt hại. Tuy nhiên nguyên tắc này chỉ có thể áp dụng đối với trường hợp định lượng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất còn trong trường bồi thường thiệt hại về tinh thần thì rõ ràng những tổn thất về tinh thần là những tổn thất không thể nhìn thấy, không thể tính toán và không thể chứng minh được chính vì vậy trong trường hợp này pháp luật cần quy định một mức nhất định dể cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng trong trường hợp một người có hành vi xâm phạm đến các quyền nhân thân của người khác.

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra và trách nhiệm bồi thường bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

Căn cứ vào nguyên nhân gây ra thiệt hại trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân chia thành chách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra và trách nhiệm bồi thiệt hại do tài sản gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra được hiểu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi thiệt hại xẩy ra là kết quả tất yếu của hành vi con người gây ra. Trường hợp này người gây thiệt hại đ thực hiện hành vi dưới dạng hành động hoặc không hành động và hành vi đó chính là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi tài sản chính là nguyên nhân gây ra thiệt hại khi hoạt động của những nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, cây cối đổ gẫy gây ra thiệt hại, nhà công trình xây dựng bị sạt lở, đổ gây thiệt hại, gia súc gây thiệt hại…

Việc phân loại hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại này có ý nghĩa trong việc xác định trong việc căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đối với trường hợp bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra thì một điều không thể thiếu là hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật, trong đó bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra vì không có hành vi nên điều kiện này không thể không được xem xét dến.
Ngoài ra việc phân loại này còn có ý nghĩa trong việc xấc định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường: Về nguyên tắc thì người nào có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra còn đối bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra thì về nguyên tắc chịu trách nhiệm bồi thường lại thuộc về chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu giao quản lý tài sản đó chứ không phải thuộc về tất cả mọi người đang chiếm giữ tài sản đó.

Hiện nay bộ luật Dân sự Việt Nam chưa quy định về trường hợp một người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản như chiếm hữu thông qua hợp đồng dân sự(Ví dụ: thơng qua hợp đồng thuê, mượn, gửi giữ…) hoặc chiếm giứ tài sản do pháp luật quy định (chiếm hữu tài sản do bị đánh rơi, bỏ quên, gia súc gia cầm bị lạc…) mà tài sản này gây thiệt hại cho người khác thì ai phải bồi thường thiệt hại. Xét về nguyên tắc theo quy định của pháp luật hiện nay thì chủ sở hữu vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường. Theo tôi thì quy định như vậy sẽ không phù hợp vì trong trường hợp này chủ sở hữu đã chuyển giao quyền chiếm giữ của mình cho người khác việc kiểm soát quản lý tài sản đó nằm ngồi ý chí của chủ sở hữu. Trong trường hợp này pháp luật cần quy định về người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người chiếm hữu hợp pháp bởi lẽ tài sản đang thuộc quyền nắm giữ quản lý vơi kiểm soát của người này.

  - Trách nhiệm liên đới và trách nhiệm riêng rẽ.


Căn cứ vào mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể bồi thường thiệt hại được phân loại thành trách nhiệm liên đới và trách nhiệm riêng rẽ bồi thường thiệt hại được phân loại thành trách nhiệm liên đới và trách nhiệm riêng rẽ bồi thường thiệt hại liên đới được hiểu là trách nhiệm trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì nhữn người trong số những người có trách nhiệm phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ thiệt hại và mỗi người trong số những người có quyền đều có quyền yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thương toàn bộ cho mình.

Bồi thường thiệt hại riêng rẽ là trách nhiệm nhiều người mà theo đó thì mỗi người có trách nhiệm chỉ phải chịu trách nhiệm đối với phần thiệt hại do mình gây ra với mỗi người trong số những người có quyền đều có quyền yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường những tổn thất mà mình phải gánh chịu.

Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định cách thức thực hiện nghĩa vụ, căn cứ phát sinh, chấm dứt nghĩa vụ để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cảu các bên. Đối với trách nhiệm liên đới thì khi một bên thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình trách nhiệm vẫn chưa chấm dứt mà họ phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ thiệt hại. Khi một người gây thiệt hại đã thực hiện tárch nhiệm bồi thường thì sẽ phát sinh nghĩa vụ hoàn lại giữa những người có trách nhiệm khác với người đó và khi một người trong số những người thiệt hại đá  yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường toàn bộ thiệt hại cho mình thì phải hoàn lại phần tương ứng cho những người bị thiệt hại khác.

Đối với trách nhiệm riêng rẽ thi khi một người thực hiện xong phân nghĩa vụ của mình hoặc một khi người đó có yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối với mình thì quan hệ nghĩa vụ của họ đối với người khác sẽ chấm dứt.

- Trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập.

Căn cứ vào yếu tố lỗi và mức độ lỗi của người gây thiệt hại và người bị thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể phân thành trách nhiệm hỗn hợp và trách nhiệm độc lập.

Trách nhiệm hỗn hợp là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà trong đó cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi.

Trách nhiệm độc lập là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà người bị thiệt hại là người hoàn toàn không có lỗi.

Việc phân biệt hai loại trách nhiệm này sẽ có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm bồi thường và mức độ thiệt hại thường và mức độ thiệt hại vì theo quy định tại Điều 617 Bộ luật Dân Sự thì khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

  - Trách nhiệm bồi thường của cá nhân, trách nhiệm bồi thường của pháp nhân, các tổ chức khác và trách nhiệm bồi thường nhà nước.

Căn cứ vào chủ thể chịu trách nhiệm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân loại thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại cá nhân, trách nhiệm bồi thường của cá nhân, trách nhiệm bồi tường của pháp nhân, các tổ chức khác và trách nhiệm bồi tường của nhà nước.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân được hiểu là trách nhiệm dân sự mà theo đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhân người gây ra thiệt hại hoặc đại diện của người của đó theo pháp luật như cha, mẹ, người giám hộ...

Trách nhiệm bồi thường của pháp nhân và các tổ chức khác được hiểu là được hiểu là trách nhiệm dân sự phát sinh do pháp nhân hoặc các tổ chức khác trong trường hợp người của pháp nhân và các tổ chức gây thiệt hại trong khi thực hiện pháp nhân hoặc tổ chức giao cho.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại Nhà Nước được hiểu là khi cán bộ công chức gây thiệt hại thuộc phạm vi bồi thường nhà nước thì nh nước phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại chứ không phải chính cán bộ công chức hay cơ quan quản lý cán bộ công chức phải bồi thường.

Việc phân loại này cũng có  ý nghĩa trong việc xác định chủ thể phải bồi thường và việc xác định nghĩa vụ hoàn lại: Đối với trường hợp của người pháp nhân hoặc tổ chức gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao cho đối hành vi của họ được hiểu là hành vi của pháp nhân chính vì vậy theo quy định của pháp luật Dân sự (Điều 618,619,620,621) thì trách nhiệm trước hết thuộc về pháp nhân, tổ chức. Sau khi người có trách nhiệm bồi thường đã thực hiện xong nếu người gây thiệt hại có lỗi sẽ làm phát sinh nghĩa vụ hoàn lại của người có hành vi gây thiệt hại cho pháp nhân, tổ chức đó.

Việc phân loại này cũng có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm bồi thường, trình tự, thủ tục bồi thường… Bởi lẽ nếu trách nhiệm nhà nước thì sẽ bị giới hạn phạm vi áp dụng hoặc do đặc thù nhà nước là một chủ thể đặc biệt thực hiện việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội tiền bồi thường thuộc ngân sách nhà nước do đó việc thực hiện trình tự thủ tục bồi thường cũng không giống với trách nhiệm bồi thường thiệt hại thông thường. Trong thời gian tới khi luật Nhà nước được ban hành sẽ quy định một cách rõ ràng, cụ thể hơn vấn đề này.

Ngoài ra nếu căn cứ vào lĩnh vực bồi thường thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được phân loại thành bồi thường trong lĩnh vực hành chính, hình sự, tố tụng hình sự, sở hữu trí tuệ. Căn cứ vào số lượng số chủ thể chịu trách nhiệm có thể phân trách nhiệm bồi thường thiệt hại thành trách nhiệm một người và nhiều người; Căn cứ vào điều kiện lỗi có thể phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại không cần yếu tố lỗi; Căn cứ vào các yếu tố có liên quan đến pháp luật nước ngoài hay không có thể phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại thành trách nhiệm bồi thường trách nhiệm trong nước và trách nhiệm bồi thường thiệt hại có yếu tố nước ngoài… Tuy nhiên những cách phân loại này cũng có nhiều ý nghĩa nữa không được đề cập đến trong phạm vi bài viết.
 

Trân trọng !

Quý khách cần tư vấn pháp luật miễn phí xin vui lòng liên hệ theo địa chỉ:
CÔNG TY LUẬT PHẠM VIỆT - Số 151 Phùng Hưng - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Điện thoại: 0908 893 458 - 0932 297 115  - 0932 313 819 - Email:
luatsuphamviet@gmail.com

Các bài viết khác:
TRƯỜNG HỢP MIỄM ÁN PHÍ
Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thời hiệu trong dân sự
Việc xử lý phần di sản hết thời hiệu khởi kiện
Quy định về Án phí dân sự sơ thẩm
Thực tiễn xét xử giải quyết tranh chấp đất đai
Pháp nhân nước ngoài là gì ?
Quan hệ pháp luật hành chính
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật hành chính
Đất phi nông nghiệp là gì ?
Vấn đề di sản chuyển thành tài sản chung
Về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Về bí mật đời tư theo pháp luật Việt Nam
Một số vấn đề về quyền nhân thân
Quyền lợi phụ nữ trong Luật Đất đai